Ton Thanh Quang's Poems

Thơ Tôn Thanh Quang

HỒI TƯỞNG

Tôn Thanh Quang

Bước vào cổng nhà số 43 N.T, Q3, nợi họp mặt của những đoàn viên Thanh niên xung phong cũ thời chống Pháp, thời hòa bình và thời kháng chiến chống Mỹ, bỗng dưng tôi đứng nhưn trời trồng, khi nhìn thấy con người mà suốt đời tôi không thể nào quên. Tôi đi lùi lại và nép sau cánh cổng có những ổ trống để ghé mắt nhìn anh. Tôi ngắm nhìn, quan sát xem ở anh có gì thay đổi và không thay đổi. Năm tháng và có lẽ cả những suy tư làm anh già đi, mái tóc đã ngả sang màu bạch kim, in màu thời gian, chuyển từ đẹp trai sang đẹp lão. Đôi mắt vẩn thế, khi anh nói chuyện với ai anh nhìn nhưn dán mắt vào nguồi ấy, bàn tay siết chặt, cái cách thường có đối với người thân, thỉnh thoảng anh ngẩng lên nhìn xa xăm, đăm đăm không chớp mắt, đôi mắt buồn đang gửi vào thinh không mênh  mông nỗi ưu tư khi anh chọn cách để trả lời, đôi mắt anh luôn diễn cảm. anh đảo mắt nhìn ra cổng nơi tôi đang đứng như có y đang chờ một ai đấy, còn tôi cứ giật thót mỗi khi anh nhìn ra chỗ tôi đang nấp. Những lúc ấy tôi như muốn chạy nhanh đến ôm chầm lấy anh, nhưng lại ngượng, sợ người ta cười, một phần ái ngại vì chuyện ngày xưa – cái thời ăn chưa no, lo chưa đến. Có một giai đoạn của thời kì này , tôi gán cho là giai đoạn “ thổ tả” – ở giai đoạn này, vì dại dột tôi đánh mất anh. Mỗi khi nghĩ đến việc này là tôi bủn rủn chân tay, mất tự chủ, tôi không bước qua cổng mà quay ngược trở ra, tìm một quán nước vào một góc vắng gọi cốc trà Atiso và mấy chiếc bánh mặn. Sau cái nhấp đầu tiên tôi thấy đắng miệng và nghĩ là mình không nên vào phòng họp, nhưng rồi tôi cảm thấy thật vô lý, vì đâu có phải mình anh mà còn bao nhiêu bạn bè thân thiết từ 45 năm qua. Hơn nữa tôi là người ngoài Bắc mới vào thăm những người thân, dịp này các bạn cố kéo đi.

Tôi  ngồi tréo chân chữ ngũ, cùi chỏ tì vào đầu gối, tay chống cằm lướt nhanh những dòng ký ức kể từ khi tôi  nhìn thấy anh lần đầu. khi ấy tôi là cấp dưỡng, đang lúc dọn bàn trong nhà ăn cơ quan Đội 38, soát xét lại bát đũa thừa thiếu ra sao thì anh phụ trách văn nghệ Đội bước vào dắt theo chàng trai và hỏi tôi: “ cô M. Có quên phần cơm của anh này không đấy”, tôi chưa vội trả lời mà nhìn vào khách – một vị khách đầy ấn tượng, trang phục quân đội, áo cộc tay để lộ đôi tay trắng ngần, đôi má ửng hồng như con gái, đôi  mi rộng dài cong, mắt tròn sâu, mũi thẳng… Tôi trêu luôn: “xin lỗi khách tôi quên khuấy phần cơm anh”, anh vẫn điềm nhiên, cái điềm nhiên đến lạnh lùng, đưa đôi mắt mở to nhìn tôi, hình như anh không quan tâm đến phần cơm, mà chỉ tò mò khuôn mặt cô cấp dưỡng. Tôi cảm thấy hình như mình bị thôi mien. Từ thế chủ động thành bị động, lúng túng, vụng về. Thấy vậy người đi cùng anh trêu tôi: “Thế cô nỡ bỏ đói anh chàng đẹp trai này à?”. Tôi liếc nhìn anh. Người phụ trách tấn công luôn: “cơm chứ không phải cái liếc ấy!”, quay sang khách anh lại hỏi: “trong hai thứ cậu thích cái nào?”

–          “có thực mới vực được đạo”, anh trả lời cụt lủn, nhưng cười hàm ý mà không nói gì thêm.

Từ đó ngày nào tôi cũng chờ anh ở những bữa cơm và tò mò nhìn ngắm anh chàng đẹp trai dáng vẻ thông minh này. Có đến ba tuần trôi qua, ngày nào xuống nhà ăn, ăn ba bữa, ăn xong rửa bát đũa để vào rổ lên phòng làm việc mà không nói năng gì. Ngoài anh ai cũng trêu chọc, tìm cách làm thân với tôi, nhất là những anh chưa vợ. Tôi nghĩ hay là đã có… Nhưng hãy còn trẻ quá, má búng ra sữa cơ mà! Một lần tôi kiếm chuyện tấn công: “Anh để bát đũa không đúng chỗ”

–          Tôi vẫn để chỗ cũ mà!

–          Nhưng không đúng, bát ra bát, đũa ra đũa, không chiếc xuôi chiếc ngược thế kia – tôi phán xét thị uy.

Anh vôi vàng sắp lại rồi bỏ đi, tôi cụt hứng và thấy tức tức. Rồi có một chủ nhật sáng mùa thu tôi ra sông Lô cách cầu Việt Trì vài trăm mét về phía dưới, ngồi trên bờ ở mép nước giặt quần áo. Bỗng tôi giật mình khi nghe tiếng nước vỗ mạnh như có ai nhảy phóng xuống sông bên kia bụi dứa dại. Tôi đứng dậy  nhìn, không thấy ai, một lúc lâu sau có người nhô lên mặt nước và bơi về phía bên kia bờ, kiểu bơi của con người biết thể thao. Tôi nhận ra người thường ngày ăn ở nhà bếp. Sang đến bờ leo lên bè nứa ngồi kỳ cọ, thỉnh thoảng lại nhảy chúi đầu xuống sông, rồi lại leo lên. Tôi chờ anh bơi về để khen và làm thân, nhưng còn có tôi ngồi đấy anh không bơi về, đã gần đến giờ chuẩn bị cơm trưa, tôi phải về tuy chủ nhật ít người ăn. Tôi nghĩ, con người gì mà kiêu kỳ đáng ghét thế! Tôi thu xếp quần áo vào chậu, trước khi ra về tôi còn kịp lấy quần áo anh đưa vào bụi dứa dại, lấy chiếc lá cọ trên bè nứa đậy lại. Tôi về được một lúc, thì anh trong bộ quần áo chỉnh tề bước về phòng  mình, không có ý tìm tôi trách móc. Tôi quay về chuẩn bị bếp núc, khi quay ra trước mặt tôi ở lối vào xuất hiện chiếc lá Cọ có mãnh giấy gắn trên đó “chiếc lá cọ tội lỗi”, tôi ôm bụng cười bò ra. Nghe tôi cười ai trong cơ quan đều chạy đến, chỉ thiếu mỗi mình anh. Họ hỏi tôi tại sao cười to vậy, tôi chỉ chiếc lá Cọ có mãnh giấy, không ai hiểu ra làm sao cả mà chỉ nhận ra chữ người viết. Họ lên phòng ở kéo anh xuống để giải thích, anh trõ vào tôi, tôi lại cười to và trõ vào anh. Chỉ qua trõ lại nhiều lần, tôi đành phải nói: “lá Cọ ấy có công chứ chả có tội lỗi gì” và tôi giải thích: “ anh ấy tắm, bơi sang phía bên kia bờ sông Lô, quần áo không ai nom, tôi ra về phải đem giấu  hộ vào bụi dứa dại và lấy lá cọ đậy lại, anh không hiểu và viết như thế! Anh nghĩ là tôi trêu anh”. Có vài người bắt anh cảm ơn tôi với hai lẽ:

–          Để khỏi mất quần áo

–           Nếu có mất thì chính cái lá cọ ấy che được của nợ của chàng Adam trên đường về, cô ấy lo xa đến vậy, đúng là cô có công mà lại gán cho lá Cọ có công thì thật là khiêm tốn.

 

Tôi xấu hổ, bưng mặt chạy trốn. Mãi đến mấy ngày sau tôi mới dám liếc nhìn anh, mỗi lần anh bắt gặp tôi liếc nhìn, anh hất hàm cười trêu rồi bỏ đi. Ngày ngày trôi đi chủ nhật lại đến, mới rạng đông mà anh ra bể nước đánh răng. Bể nước bên cạnh phòng ngủ của tôi, nghe động tôi  mở cửa nhìn. Anh nghe tiếng mở cửa quay lại  nhìn rồi vội súc miệng, đứng dậy quay hẳn về phía tôi: “từ nay có nhìn thì đằng ấy nhìn thẳng, chứ đừng liếc, có dám nhìn không nào?”

–          Anh phải là Hổ đâu mà tôi không dám nhìn.

Tôi tròn mắt nhìn anh không chớp, anh cũng nhìn tôi như vậy, thi nhau nhìn xem ai thua. Vừa nhìn anh vừa đi về phía tôi, mắt vẫn không chớp nhưng đắm say và âu yếm hơn, nống cháy hơn. Kỳ diệu thay đôi mắt ấy bừng lên một thứ ánh sáng chinh phục, đôi  mắt bồ câu đến dễ thương! Tôi không chịu đựng được nữa, chịu thua đành từ từ nhắm mắt lại, giơ tay xin hàng, giơ mặt ra sẵn sàng đầu hàng và chờ đợi phán quyết của đối phương, tôi sẵn sàng đón lấy cái cần thiết mà người con gái cần ở một chàng trai mà mình mơ ước. Đôi môi tôi bỗng nóng bỏng, tôi nhận chiếc hôn kéo dài như vô tận, chúng tôi ôm ghì nhau qua đôi vai, rồi hình như tôi bất động, mềm nhũn và phó thác… Tình yêu chúng tôi bắt đầu như vậy đấy! Cái tỏ tình quá ít lời, xảy ra đúng một ngày trước khi anh lên đường về đơn vị ở Vũ Ẻn. Tôi rời trường cấp 3 ở Nghệ An vào thanh niên xung phong vừa mới lên đến đây, chưa biết Vũ Ẻn là đâu, nhưng qua thư anh bỏ vào thùng thư các ga anh đi qua và ngày tháng theo dấu bưu điện tôi sắp xếp theo thứ tự thời gian, tôi biết được các ga: Việt Trì, Tiên Kiền, Phủ Đức, Phú Thọ, Chí Chủ, Vũ Ẻn… Anh ở Vũ Ẻn trên ba tuần, mỗi tuần anh viết cho tôi hai bức thư ngắn, nhưng tha thiết yêu thương, anh viết có ý tứ không để trùng nên thư anh giàu  màu sắc, sâu đậm nét tâm hồn, nhân vật đầy chất thơ lãng mạn. Trong bức thư anh viết trước ngày dời đi nơi khác có một bài thơ mấy câu nhưng lại nói lên rất nhiều:

Chiều về ngày chuyển nhớ sang đêm

Da diết đêm dài ai nhớ em

Chuông khuya đưa nhớ vào sâu thẳm

Kinh sớm tiễn buồm ra mênh mông

Thao thức vầng trăng ôm biển nhớ

Chập chờn lòng biển ấp trăng ngân

Trăng ngân trải lụa vàng mặt biển

Khỏa chăng buồn nhớ ở sâu xa!

Tôi xem đấy là nỗi nhớ mà chúng tôi gửi đến nhau, cái nhớ triền miên ngày lẫn đêm mất ngủ, những gì xảy ra trong đêm đều nghe thấy, anh viết về tâm trạng mà cả hai cùng có. Đọc mà cảm thấy lòng mình được anh ấy yêu. Có bạn nào về Việt Trì công tác khi thì anh gửi cho tôi hồng, lúc thì bưởi, khi thì cam. Tôi chia cho bạn bè, khoe để chia sẻ niềm vui. Anh sắp đi xa thêm về phía Tây Bắc làm cung đường mới, trước khi đi anh đề nghị tôi về Phú Thọ, nơi bà chị đỡ đầu của anh làm hội trưởng hội phụ nữ tỉnh. Tôi cố xin phép và được đi. Chiều thứ bảy, bốn giờ anh đón tôi tại ga. Tôi đi theo tàu chở đá mất hai giờ, nhưng cảm thấy thời gian đi như rùa. Anh đưa tôi đến chị anh, chị niềm nở đón tiếp chúng tôi làm  tôi đỡ bối rối. Ăn cơm xong chị cho phép đi dạo chậm nhất là 12 giờ đêm phải về. Đây là dịp tâm tình đầu tiên, cái muốn nói thì nhiều mà đêm thì quá ngắn, tôi  ngủ với chị còn anh ngủ ở phòng khách. Đêm tôi chả ngủ được vì thứ tình cảm mới mẻ này, tôi cười một mình trong tối, nhưng hình như thấy mắt mình sáng ra và nhìn rõ anh bằng xương bằng thịt. Mong trời chóng sáng để tôi lại được tâm tình với anh, được anh nói cho nghe những lời yêu thương, được âu yếm. Tôi cứ nghĩ về anh, mắt thì thức, đôi tai như nghe những lời thì thầm của người yêu về ước vọng của anh. Tôi thích cái ý chí, cương nghị và rõ rang của anh, một con người muốn đi xa và vươn cao tầm trí thức, có hoài bão và định hướng cho cuộc đời, con người anh có chất thơ và mơ mộng.

Tiếng con gà kêu quác quác liên hồi, như có ai tóm vào chân, sỡ hãi kêu cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, tôi tung chăn đứng dậy, xếp lại chăn gối, đi ra thì đã thấy anh cầm chân con gà mái vàng non tơ trong tay, tôi chạy đến chỗ anh hỏi: “Chị cho phép anh bắt gà không?”, anh trả lời: “ Không được phép, nhưng bao giờ việc anh làm cũng hợp ý chị, vì vậy mà nên chị nên em”. “Thế còn nên vợ, nên chồng thì thế nào?” , “cái đó còn tùy thuộc cả em, lẫn anh” anh trả lời. Tôi nghĩ anh ấy rất hợp với mình. Chị anh đã thức dậy, tôi liền đi tìm cái chỗi quét nhà, lấy nước vào các chum, vại… tôi làm những việc có thể để chị thấy được là tôi thiết tha với gia đình này. Chị đưa tôi đến chợ, anh đi theo, chị mắng là con trai không được đi chợ, ở nhà chẻ củi, thế là anh chin mặt đỏ ửng. Đi chợ về tôi trổ tài nấu ăn, ăn xong chị không cho tôi rửa bát, mà phân việc ấy cho anh với lý do là từ sáng tới giờ cô M. làm nhiều rồi. Thế là tôi đoược ngủ bù lại cái đêm qua thức trắng. Tôi ngủ một mạch đến ba giờ chiều, vừa mở mắt tôi đã thấy anh ngồi ngay ở cuối giường, chưa kịp hỏi thì anh đã bảo rằng tranh thủ thời gian ngắm em, vì ngày vui chẳng đầy tấc gang, chúng ta chỉ còn hai giờ nữa phải chia tay. Việc chia tay đã đến, nhưng ngày gặp lại còn như xa vời. Tàu anh ngược, tôi về xuôi. May mắn thay tàu tôi chạy trước nên có người đưa tiễn! Anh về là chuyển quân đi sâu về miền Tây Bắc, đi dần vào rét buốt của mùa đông đang đợi. Cuối thu trời trở lạnh, không phải là tàu khách nên trống gió, tôi ngồi thu lu vào một góc để nhớ lại, để cười một mình, hạnh phúc tràn ngập trog tôi. Về đơn vị, tôi  năn nỉ mãi  mới được chuyển lên Trái Hút, tôi định đón đầu anh ở đấy, chưa hiểu địa dư vùng này, nhưng nghe hai từ “Trái Hút”, tôi cảm nhận được cái xa xôi, đèo heo hút gió, vắng vẻ và mông quạnh, nhưng còn được hy vọng là người tôi yêu thế nào cũng đến đấy. Tôi đến Trái Hút nhận công tác, nhìn quang cảnh giống nhưn những gì mình nghĩ, tưởng tượng. Hơn một tuần sau tôi mới nhận được thư anh, đọc mà chán ngán và thất vọng. Trời không chiều lòng chúng tơi, lần nữa chúng tôi đi ngược nhau. Tôi chứ không phải anh tiến nhanh về Tây Bắc, anh về xuôi thuận buồm xuôi  gió để vào dự bị đại học. Thế là một lần  nữa chúng tôi đi ngược nhau, dạo ấy là đầu xuân 1956. Dù sao thì tôi cũng rất mừng cho anh, vì anh đạt được những gì anh mong. Anh về chúi mũi vào học, hè tham gia lao động công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải, tập quân sự, giao thông không thuận tiện do đó không lên thăm tôi được. Tôi bận công tác và bị sốt rét rừng , lo chữa bệnh, mãi đến mùa thu năm 1957 sau khi lành bệnh tôi về Hà Nội thăm anh. Tôi đến trường mà không báo trước, một sáng chủ nhật. Tôi gửi chứng minh thư, đi vào nhà tập thể khoa kiến trúc xây dựng khóa 3, lớp 2 trường Đại Học Bách Khoa. Anh đang ngồi làm bài tập toán trên một bàn nhỏ tự tạo, đặt trên giường kép ở tầng trên. Bạn anh bảo có khách, anh nhìn ra cửa thấy tôi, không trèo theo bậc lên xuống mà đánh đu thành giường nhảy xuống, tra chân vào dép chạy ngay đến đón tôi và trách lại sao tôi không viết thư để anh đi đón. Tôi về với mặt bủng, da chì, tiều tụy sau cơn bệnh sốt rét, anh nhìn tôi với lòng thương cảm xót xa. Trong cách nói của anh như tự trách mình học nhiều, thiếu quan tâm chăm sóc tôi nên anh cảm thấy hối hận. Tôi nói để anh an tâm là tôi đã chữa hết bệnh. Các bạn anh chạy đến vây lấy tôi, người đi rót nước, ai có tí bánh kẹo thì đưa ra để đãi khách, tôi rất vui. Nhưng ai cũng tránh hỏi tôi về sức khỏe vì thấy tôi như vậy. Bây giờ tôi mới nói được tại sao không báo trước, vì muốn kiểm tra xem anh có làm như anh nói trong thư là ngày chủ nhật nào cũng học cả ngày, bốn giờ chiều ăn cơm xong  mới đi chơi, giải trí hoặc đi thăm viếng một ai đấy. Anh đứng lên thành giường của bạn bên dưới vớ cả sách vở và tờ nháp là anh đang giải toán và có đánh mộ số bài tập toán của chương đã học, tôi  nói anh làm nhiều bài quá! Anh giải thích, muốn cũng cố, nâng cao và mở rộng, nắm được những bài có tính tổng quát, phải làm như vậy, có như thế kiến thức mới không bị quên đi và trở thành của mình và hỏi thế em có tin chưa, nếu không thì hỏi bất kì đứa nào trong tập thể này. Vấn đề học thì em tin, nhưng cái khoảng từ 4 giờ 30 chiều đến tối ai theo anh mà biết, tôi đùa anh như vậy nhưng hôm nay lệnh cho anh là đi chơi sau cơm trưa không cần phải đúng lệ, đi với em! Anh vui vẻ hưởng ứng. Tôi ở Hà Nội đúng mười ngày phép, anh cố gắng thu xếp để ngày nào cũng đến với tôi đúng lúc 5 giờ 30 chiều, không hơn và cũng không kém, riêng khoảng này chị tôi nói là anh rất nghiêm túc, đúng giờ giấc. Ngày ấy có xe đạp là sang lắm, anh đèo tôi dạo quanh Hồ Gươm, hồ Thiền Quang, Bảy Mẫu ( ngày nay là công viên Thống Nhất),  hồ Tây, đường Cổ Ngư, Quảng Bá, Nghi Tàm, Phủ Tây Hồ. Nói và kể cho nhau nghe mọi chuyện mà chúng tôi cần quan tâm, lúc vui tơi tôi hỏi anh: “Em thế này anh không chán sao?” Anh bảo chả lẽ vì bệnh mà anh bớt yêu em, trong đời í tai thoát khỏi đau ốm, đau ốm là lẽ thường, đau ốm bệnh hoạn, chữa rồi lại lành, cái mà anh sợ là yêu một cách bệnh hoạn, bệnh này khó chữa nổi! Anh còn đưa tôi đến các bác sĩ quen thân để khám chữa bệnh cho tôi, cắt thuốc Bắc cho tôi mang về, mua quà cho bạn tôi… Những gì anh thích với khả năng có thể là anh mua. Anh vẫn thiết tha yêu tôi. Đến ngày chia tay anh để về đơn vị, cũng một chiều mùa thu anh và số bạn anh tiễn tôi về lại Trái Hút xa xôi. Lên tàu tôi ôn lại những ngày sống ở Hà Nội, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc, tình yêu của chúng tôi được khẳng định, tôi yên lòng là vẫn có anh, tình yêu là nguồn cảm hưng thi ca của chúng tôi. Tôi về đến nơi là gửi thư cho anh ngay và có kèm một bài thơ:

Từ biệt thủ đô giữa  một chiều

Nắng thu nhè nhẹ gió đìu hiu

Lưu luyến gửi lại người đưa tiễn

Mà kẻ ra đi  nhớ nhớ nhiều

Con tàu mỗi lúc một dần xa

Nhưng hình ảnh kia đâu có nhòa

Nó sẽ in sâu và nhớ mãi

Trong lòng người thiếu nữ phương xa

Rồi đây khi trở lại rừng xanh

Lòng em ấp ủ mối tình anh

Lên men sực nức hơi xuân mới

Hương tình thơm ngát gọi tiếng anh.

Kỷ niệm về cái thời yêu nhau và nhất là kỷ niệm về mối tình đầu bao giờ cũng đẹp và đáng nhớ, nhưng kỷ niệm là kỷ niệm mà trái khoáy của cuộc đời vẫn cứ dày vò ta cho đến chết, nhất là trái không trong tình yêu , học hành và lao động, vì mọi của cải trên đời không thể so sánh với hạnh phúc được sản sinh ra từ các lĩnh vực ấy. Nghĩ đến đây tôi bỗng giật mình là tí nữa là mình quên buổi họp mặt. Tôi giả tiền cho chủ quán và rảo bước vào phòng họp. Tôi nhận ngay ra anh từ sau lưng, anh đứng phát biểu sôi nổi giọng ấm nồng. Tôi vội tìm chỗ ngồi thụp xuống ở hàng ghế sau cùng, tôi lại thấy tâm can dằng xé, lòng đau như cắt. Tôi tự trách mình đã không cưỡng lại áp lực từ gia đình buộc tôi không được lấy anh – tôi oán nhất là bà dì – em ruột mẹ và nếu như anh không tự ái thái quá và đừng nghi ngờ  thì chúng tôi không đến nông nổi này . Những giọt lệ như tích lâu từ quá khứ nay dồn về chảy dài trên đôi má. Tôi khóc, đôi vai cứ rung lên không kìm chế nổi, gục xuống bàn cứ thế mà khóc, rồi tôi cũng phải cố trấn tình và nhớ lại cá nguyên nhân dẫn đến gãy đổ. Từ Hà Nội về đơn vị,  chưa kip vào nhà gặp ngay cô bạn cùng phòng ở nói: “Mày được đi phép về tươi như hoa, vào văn phòng ngay mà lĩnh hoa tươi”, nhưng tôi không vội, tuy chưa biết việc gì. Tôi vào phòng ngủ, đặt ba lô xuống, soạn ra một số quà mang từ Hà Nội về ra mời anh chị em trong văn phòng ăn, tôi pha trà, rót nước. Tôi đem chén nước và dĩa bánh đến mời anh đơn vị trưởng trước, anh cảm ơn và cười vui bảo: “Cô cứ tự nhiên mời các anh chị, xong đến đây!”. Tồi nhìn không thấy hoa tươi đâu cả, kết hợp tin cô bạn và cách nói của đơn vị trưởng, tôi biết là có tin vui. Ông bảo: “cảm ơn cô vì quà Hà Nội, chè Thái Nguyên và bánh chả ngon quá!. Thông báo cô một tin vui là phải trở về Hà Nội vào học bổ túc công nông cho hết cấp ba”. Trong bụng mừng khấp khởi, nhưng không biểu lộ ro mặt, tôi không quên nói lời cảm ơn đối với cấp trên. Tôi cầm quyết định biết là phải thu xếp trở về cho kịp học. Tôi gửi thư có bài thơ trên, nhưng không nói tin này cho anh ấy biết, tôi luôn luôn muốn làm anh ấy bất ngờ. Về trường nhận lớp, tôi đến anh vào lúc 8 giờ tối, thấy tôi lại xuất hiện anh chả hiểu ra sao và hỏi: “sao em lại trở về”.

–          Vì trễ phép, đơn vị đuổi, đến đây ăn nhờ.

–          Em cứ đùa , nói thật  cho anh biết nào!

Anh cứ săn đón, hỏi dồn, tôi đành hỏi nói thật, cả anh lẫn bạn anh vỗ tay, reo vui ầm ĩ, các sinh viên hai phòng sát cạnh cũng chạy đến, họ chúc mừng tôi. Tôi vào học, anh chăm chút hướng dẫn tôi ôn nhớ  lại kiến thức bỏ từ lâu , mỗi khi có dịp là anh đến giảng giải, giúp đỡ, thực ra học người yêu là không học được nhiều, tuy anh giảng tốt. Học mà tôi cứ muốn nhìn anh và muốn hôn anh, nên ít để ý. Học bổ túc công nông nhanh lắm, ôn và học năm cuối chỉ mất tám tháng. Tôi thi hết cấp, anh giúp tôi ôn thi đại học, tôi lại vào trường ĐHBK, học khoa Hóa, tôi vào năm thứ nhất, còn anh là năm cuối. Thời kỳ chúng tôi ở Hà Nội giúp chúng tôi hiểu nhau nhiều hơn, giúp đỡ quan tâm đến nhau tốt hơn – càng biết càng  yêu thương nhau nhiều hơn, tình yêu ở vào độ chín muồi. Chúng tôi có quyền mơ ước về gia đình tương lai, hy vọng vào kiến thức của chúng tôi, yên tâm về nếp sống có văn hóa của nhau. Chúng tôi muốn thời gian trôi nhanh để tôi tốt nghiệp và làm lễ cưới. Hiểu nhau đã sáu năm, chị tôi có ý kiến nên đưa anh đến  để giới thiệu với bố mẹ và bà con họ hàng gần xa và dần dần chính thức hóa việc yêu đương nhằm tiến đến hôn nhân. Người mà tôi không thể ngờ đến trong buổi tôi đưa anh ấy ra mắt là bà dì tôi – bà rất có ảnh hưởng đối với mẹ tôi. Hình như bà đã to nhỏ bàn luận nhiều lần với mẹ từ trước. Tôi cũng không hiểu sao mà bà thành kiến với người miền Nam đến như vậy, phá quấy độc ác và có bài bản. Chín giờ sáng hôm ấy, tôi đưa anh vào phòng khách, anh chưa kịp ngồi thì dì tôi đã oang oang, bà nói cốt để anh ấy nghe thấy: “có cái đồ con gái vất đi mới lấy thằng Miền (miền Nam), ở đây khối thằng con nhà danh giá, học rộng tài cao lại muốn vơ lấy cái thằng cha căng chú kiết tận đâu đâu, bố mẹ nó ra sao cũng chẳng ai biết, chắc gì đã có nhà cửa”. Nói xong bà sang phòng khách nhìn xói vào mặt anh, cốt chọc cho anh tự ái. Anh đốp chat ngay: “ có lẽ bà vừa oang oang về mấy cái thằng Miền bên cạnh, bà yên chí, cháu bà vẫn còn đấy, những người biết tự trọng như tôi sẽ không sờ đến đâu, bà muốn gả bán cho ai thì tự do, bà vỏ vẽ vài từ địa lý nói đến miền này, miền nọ, mà dốt về lịch sử. Miền Nam do người Bắc trước đây trong quá trình mở mang bờ cõi di cư vào mà có, đất của Thủ Khoa Huân, Trương Công Định, Nguyễn Đình Chiểu, đất của những nhà cách mạng nổi tiếng như: Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ… lãnh đạo nhân dân giành từ tay giặc mà có. Bà còn tỏ ra thiếu văn hóa tôi không nói chuyện với bà”. Vừa nói anh vừa bước ra khỏi phòng khách và không hề ngoảnh lại, cả về sau này anh cũng không hề trở lại. Bà dì tức quá thét lên chửi tôi: “ Đấy, đấy! mày rước cái của ấy về chửi gia đình này, mày có thấy cái thằng Miền đánh vợ be bét máu đầu trước cửa nhà mình không?”. Mới đầu tôi chết lặng, sau tôi gào khóc vỡ nhà. Nhà như có tang. Tôi hoàn toàn thất vọng và sụp đổ. Về sau tôi đến, anh và cả bạn anh đều không tiếp, tôi viết bao nhiêu thư thanh minh đều vô ích, để chấm dứt thư từ qua lại, anh viết to hai chữ: “Phản Bội” và gửi cho tôi, không hề có thêm chữ nào. Tôi biết là vô phương cứu chữa. Hai năm sau tôi lấy chồng, bà dì đưa bác sĩ đến bảo đền cho tôi, nhà ép mãi, tôi tặc lưỡi: “Lấy cho xong”. Ngay trong ngày cưới tôi nhận thấy có điều gì bất thường, có đến mấy bàn người ta xúm lại thì thầm, nhìn mắt họ thì họ nhìn lãng tránh đi chỗ khác. Ít lâu sau tôi biết anh ta bỏ vợ trước ngày cưới hai hôm. Một lần nữa tôi chết điếng, đau nỗi đau khôn tả, đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Nỗi nhớ anh vẫn không nguôi. Có một lần tôi liều đến tập thể nơi anh ở thăm anh – thường trực nhắn anh ra, tôi vẫn phải nấp sau cánh cổng, chỉ sợ anh thấy tôi là bỏ đi. Anh ra nhìn phải, nhìn trái, tôi chạy nhanh đến nắm chặt tay anh, như sợ sổng anh và nói: “ Anh không được bỏ đi, để em nói!”. Nhưng tôi có nói được gì, chưa mở được miệng đã khóc, vừa run, vừa thở dài. Anh phán một câu lạnh lùng: “Được lấy chồng một cách dân chủ, tự do lựa chọn, tự do đá vào mông người khác, còn  đến đây khóc cái nỗi gì?”. Tôi thều thào van anh đừng nói lời cay độc đó nữa, và nói nếu anh còn nghĩ kiểu ấy và nghi tôi phản bội, thì nhất định tôi thắt cổ tự tử.  Nghe thấy thế anh ôm chặt đôi vai tôi vỗ về, an ủi. Tôi cảm thấy nỗi buồn dịu vơi, lòng nhẹ đi phần nào vì có dấu hiệu anh bắt đầu hiểu ra sự việc rằng tôi không phản bội. Lần này tôi cứ nắm chặt tay anh thanh minh cho bằng được- Bây giờ tôi sống bằng sự thông cảm của anh, mà vợ chồng tôi không còn có tình cảm gì, vì sau khi cưới được ít lâu, chồng tôi bị điều vào Vinh, anh ta lại giở thói Sở Khanh, gạ gẫm một cô y sỹ khác, viết thư cho tôi có tính chiếu lệ, khô khan, như bản báo cáo công việc của cơ quan. Tôi sinh ra không phải để đọc những bức thư kiểu này trong quan hệ vợ chồng. Bà dì tôi từ ấy trở đi không dám đến nhà tôi. Người tôi yêu, khi ra trường được vài năm thì cưới vợ, sinh con rồi được cử đi nghiên cứu sinh ở Ba Lan. Ngày anh ra đi tôi viết cho anh một bức thư để anh biết tôi vẫn tha thiết yêu anh, không hề oán trách, xa anh ấy như xa tất cả những gì tôi nâng niu, trìu mến, rằng tôi vẫn nhớ tiếng đàn của anh đánh cho tôi nghe những bài tình ca và cái quý tôi còn lưu lại là những bản tình ca trong thư anh viết cho tôi, tôi mường tượng để sống bằng quá khứ dịu êm, cái quá khứ đẹo đẽ mộng mơ không bao giờ trở lại. Giá có thể tôi đi ngược dòng thời gian, ngược  đường đời về những năm tháng yêu đương, về với những ngày thu đầy ắp kỉ niệm. May mắn thay một năm sau ngày anh đi thì tôi được đi nghiên cứu sinh tại Karl Markx Statd, cộng hòa dân chủ Đức. Hè năm 1968 tôi viết thư cho anh đến Gdansk mời anh sang chỗ tôi tham quan, anh nhận lời, lòng tôi tràn ngập niềm vui và đón anh sang. Tôi đến Bausen tỉnh biên giới giáp Ba Lan để đón anh. Một tuần anh ở đây tôi đưa anh đi tham quan Galerie tranh ảnh Dresden, anh say mê xem các tranh ảnh của các danh họa như Leonard De Vince, Rambrant, Van Gogh, Michenlangelo, Monet Claude, Eugene henri Paul… Anh bảo là kiến trúc sư khi xem tranh này không muốn đi và có thể xem đến hàng tháng mà không chán. Thăm viện bảo tang sứ Meissen, và đi dọc dòng sông Elbe thơ mộng, nhà thờ cổ thế kỷ 12 trước đây thuộc lãnh thổ Tiệp, và đưa anh đi Berlin. Mọi việc về chúng tôi được sáng tỏ, nhưng sáng tỏ chỉ giúp được chúng tôi thanh thản, giữ lại được tình bạn quí giá, còn thì chúng tôi vẫn là đôi bờ của một dòng sông, chỉ gặp nhau ở đầu nguồn, càng đi dần xa về phía đại dương càng xa nhau, chỉ có thể gửi tình cảm qua những con sóng vỗ bờ nhờ gió xuôi và gió chướng. Sau đấy ít lâu, không hiểu ai đó viết về cho vợ anh chuyện anh sang Cộng hòa dân chủ Đức, chị ấy mò ra được địa chỉ của tôi, viết thư cho tôi đầy vẻ trí thức, nhưng ghen cái ghen của Hoạn Thư, về lý lẽ, cũng như tình cảm bắt tôi phải đoạn tuyệt với anh. Tôi đành hy sinh tất cả để anh yên với vợ con… Lần này không phải là anh, tôi buộc không trả lời gì hết, dù anh có hỏi thăm qua thư từ.

Tôi thật vô phúc không có con cái, nếu có được khi khôn lớn điều mà tôi khuyên trước tiên là: khi có tình yêu đích thực thì hãy cố mà bám lấy, hãy cố mà theo đuổi, không nghe ai, yêu người chân tình thì sẽ có hạnh phúc . Trước khi yêu hãy trả lời được vì sao yêu con người ấy và yêu như thế nào để đảm bảo được hạnh phúc suốt đời. Không lấy người mà mình không yêu với bất kì lí do nào. Đang nghĩ đến đây thì có ai đấy đặt đặt hai bàn tay lên đôi vai tôi, tôi quay lại thì chính là anh ấy, tôi vô cùng bối rối và xúc động thật sự, tôi run lên. Anh biết ý đưa tôi ra hành hiên, hỏi thăm nhau, chúng tôi quyến luyến nhau thật sự. Nom đôi mắt anh tôi bắt được thần là anh vẫn có nỗi buồn, tôi đã hỏi khi đọc được gì trên đôi mắt anh, thì anh không chối –  Anh vẫn sống cô đơn, ly thân – Nghe anh cô đơn mà tôi đau, và chắc chắn một nỗi đau chung. Nghề của tôi là Polime – cao phân tử, còn anh ấy là một tiến sĩ kiến trúc sư tài giỏi. Thời buổi này chúng tôi hái ra tiền, nhưng tiền để làm gì khi nỗi đau tình cảm làm héo hắt con tim, cái đau lúc âm ỉ lúc bùng cháy dữ dội. Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau, về Bắc tôi mang theo quà cáp cho ngườ thân, nhưng cái mang nặng nhất là nổi buồn man mác.

T.T.Q

 

23/04/2012 Posted by | Khác | Để lại bình luận

THANH NIÊN XUNG PHONG LÒ LUYỆN THÉP

Nguyễn Quốc Khởi (Tôn Thanh Quang)

Hiệp định Genève năm 1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở vào là miền tập kết của bọn giặc Pháp. Lại nổi đau chia cắt của dân tộc Việt Nam! Quê tôi ở Bắc Quãng Ngãi thuộc vùng một trăm ngày giặc phải tập kết xong, tôi như thấy mình mồ côi lần thứ ba. Tôi đã chịu cảnh mồ côi từ lúc lên năm, mồ côi mẹ từ 1952 lúc bấy giờ tôi mới 17 tuổi. Lần này tôi cảm thấy nặng nề quá! Vì thiếu vắng chế độ xã hội và chính quyền cách mạng cái nôi ru và nuôi dưỡng ước mơ làm người của tôi. Ngày giặc đến tôi như mất phương hướng, bơ vơ, cái bơ vơ đến là mênh mông, nỗi buồn trĩu nặng trong tôi. Tôi hiểu chính quyền mà giặc sắp dựng lên không phải của dân mà là chính quyền phản động. Vừa chân ướt chân ráo đến nơi mà trước đây bằng bom đạn và lũ người được trang bị bằng vũ khí đến tận răng cũng không thể mon men đến được. Bọn giặc đã bắt loa oang oang rằng: Việt Nam cũng như Nam Bắc Triều Tiên, Đông và Tây Đức sẽ bị chia cắt vĩnh viễn. Âm mưu của chúng, nhưng lại đổ vấy cho ta sẽ phá hoại hiệp định. Tôi hiểu rằng để có được thống nhất còn phải lâu dài và đấu tranh  gian khổ. Đứng  vào đâu và dựa vào ai khi lớp cán bộ chính quyền cũ và Đảng đang rút vào hoạt động bí mật. Chưa nghĩ ra thì tôi nhận được tin vui từ chị bạn đồng nghiệp dạy trong xã. Chị đi thăm chồng từ phía Nam Quảng Ngãi về báo tin: “trong ấy đang lấy học sinh cấp 3 Lê Khiết đi Bắc”. Như kẻ sắp chết đuối vớ phải cọc, mở cờ trong bụng. Ngày ấy tôi chưa học xong cấp 3, nhưng gia đình không còn ai. Năm 1954 tôi phải đi dạy cho cậu em trai tôi đi học. Tôi âm thầm chuẩn bị, buổi tối 21/11/1954 tôi mới nói lời từ biệt cậu em trai, mang túi xách, mấy bộ quần áo, ít tiền rồi lặng lẽ ra đi, lòng thấy ngậm  ngùi đau vì phải chia tay những người thân. Tôi đi trong đêm tối, đến quá 10 giờ, vào nhà người quen ngủ nhờ, sáng ngày lại đi sớm vào nơi bà chị ruột lấy chồng, thương lượng để vợ chồng chị về canh tác, nuội em. Vài ngày sau, chị đặt túi xách vào lòng thúng lớn, đổ gạo lên trên. Như người đội gạo đưa em đi học ngày nào, chiều xuống, chúng tôi sang được bờ nam song Vệ an toàn, vào nhà trọ cũ trước kia, hai chị em ngủ nhờ. Sáng hôm sau chị tiễn tôi sang bên kia đập Bến Thóc. Ngoái nhìn lại thấy chị đang khóc, linh tính bảo tôi đấy là những giọt nước mắt vĩnh biệt (năm 1968 chị bị Mỹ bắn pháo vào làng chết, để lại 3 con và chồng). Tôi định đến Thi Phổ (quê của bác Phạm Văn Đồng) như chị bạn bảo. Đi dọc quốc lộ 1A tôi thấy nhiều thanh niên tụ tập và đang chen nhau ghi tên tại thôn Bồ Đề, tôi hỏi các anh cho biết: ghi tên học sinh cấp 3 Lê Khiết, không ai biết. Tôi do dự, đắn đo suy nghĩ một lúc, sau đó quyết định gia nhập thanh niên xung phong. Còn trẻ còn lao động góp phần bé nhỏ vào công cuộc kiến thiết đất nước, học sau, chả sao. Thời kháng chiến chống Pháp, công binh xưởng đóng ở làng tôi, nhìn thấy các anh cán bộ kỹ thuật, công nhân và máy móc… Tôi mơ ước  ngày mai được như các anh, cái ước mơ ấy ngự trị trong tôi và trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời. Đi bằng cách nào, con đường nào ra được miền Bắc là có được tương lai tươi đẹp, được học hành và được cống hiến.

Chiều hôm ấy chúng tôi đi thành hàng lối lên đến ga Lam Điền, những bước chân đầu tiên theo kiểu nhà binh, leo lên những to axe không đầu máy, không sức kéo mà đẩy bằng sức người, chân thong xuống đạp vào tà vẹt, hay bám vào thành vịn lên xuống. Người đẩy đứng nghỉ khi đoàn xe chạy ở quán tính lớn hoặc lúc xuống dốc. Ngày hôm sau khi ông Mặt Trời nhoẻn miệng chúng tôi ở trên đất Bình Định. Ban mai của ngày đông Miền Trung mát dịu đánh động những giấc mơ còn đọng lại từ đêm. Gần tối chúng tôi đến ga Diêu Trì vào Quy Nhơn.

Đêm hôm ấy trời mưa như trút, kéo dài vài ngày không ngớt. Nước lũ ngập đường chúng tôi không thể nào ra cảng được để lên tàu. Mãi đến chiều 4/12/`1954 chúng tôi bước vào tàu há mồm để ra khơi lên tàu Na Uy. Sóng, gió, tốc độ con tàu làm hầu hết chúng tôi nôn ra mật xanh, mật vàng, lên được tàu lớn ai nấy đều tranh thủ nằm, nhiều người say ngây ngất chả ăn uống được gì. Tôi không thuộc những người mà song hay cái bồng bềnh của con tàu có thể hành hạ được. Tôi leo lên boong ngắm trời mây non nước, cảnh bao la hùng vĩ trên chân song đằng Đông và lặn ở phía sau bờ đối diện đằng Tây. Thiên nhiên hùng vĩ, con tàu trở nên nhỏ bé mà con người lại càng bé nhỏ hơn. Ấy  thế mà con người từ đời này đến đời khác cố vươn lên, vượt khó để thắng thiên nhiên, làm nên những kỳ tích. Chúng tôi ra đi dưới màu áo và truyền thống thanh niên xung phong lực lượng xung kích. Trong chiến tranh chống Pháp họ đã lập chiến công, bây giờ họ ra đi để hướng đến những kỳ tích trong hòa bình. Nhá nhem tối 6/12/1954 tàu neo trước cửa Hội – Nghệ An, chấm dứt những ngày lênh đênh trên biển. Không may đi gặp lũ đến gặp lụt đành phải neo lại suốt đêm. Sáng mai mới được lên bờ, từ xa chúng tôi đã thấy cả rừng cờ và vòng cung người đứng đón tiếp. Đặt chân lên bờ được các em thiếu nhi ùa đến bắt tay bắt mặt mừng từng người, các em líu la, líu lô giọng Nghi Lộc, giọng nói mang nặng thổ ngữ của vùng “ Cà cò cuồng hay cà cò đuôi” (1) rất khó nghe, nhiều lúc không hiểu được chỉ cười nhưng cái chính là nồng ấm, ruột thịt. Đêm hôm ấy chúng tôi được phân bố về từng gia đình. Lần đầu tiên được nằm ổ rơm, đắp chăn bông – thứ được nghe nói khi học giảng văn, bây giờ mới được ươm thử, trời bên ngoài thì rét 10 độ C, nhưng được ngủ thế này quả là ấm, rất ấm.

ở đây tròn tháng, chúng tôi lĩnh trang bị, quần áo chống rét, học phong tục tập quán, học chính trị, bồi dưỡng cho lại sức, chú ý những từ ngữ, úy kỵ đến những “động thiên thai”, “đôi gò bồng đảo”, chẳng hạn…

Rời Nghệ An đến gần Hà Nội, nơi ấy sẽ biên chế thành đoàn, đội và đại đội…Vùng Văn Điển, Vĩnh Thịnh, Vĩnh Trung…tôi nhớ dịp gần tết chúng tôi đi biểu diễn văn nghệ, nhảy dài “Phi công vũ”. Phi Anh, Trang Ngọc Các, Cao Phúng, Trần Thâm và tôi…vì thừa năng lượng nên nhảy suýt sập sàn, sàn rung buộc chúng tôi phải dừng lại. Chiến tranh đi qua, hòa bình được xác lập, nhưng nửa nước vẫn còn nằm trong tay kẻ thù, vì vậy nhiều việc trọng đại phải làm, ví dụ chỉ cần thanh toán việc dùng ao tù nước đọng mà chính ở đấy người ta vừa giặt giũ vừa vo gạo, chung quanh ao đầy phân người, phân súc vật cũng cần có thời gian, chả dễ mà chóng vánh. Giao thông vận tải, năng lượng, thông tin, canh tác, chế tạo máy…vô số công việc cần cán bộ chuyên môn, nhiều người cần phải học, phải được đào tạo…chỉ sợ mình thiếu khả năng, thiếu tri thức để đón nhận. Vào Thanh niên xung phong là một thử thách ban đầu. Vì học là lao động cần tri thức nặng nhọc, cần tập trung trí óc, căng thẳng nhiều hơn, cần có tư duy và óc tưởng tượng…trong lao động đơn giản anh đã ngã, thì cái khó hơn chắc là anh không kham nổi, anh phải rèn luyện trước khi muốn đi xa. Trước ngày lên đường, Đoàn Thanh niên xung phong có cho học tập chính trị, xác định vị trí của Đoàn, nhiệm vụ của từng người, của tập thể, viết quyết tâm gửi lên Hồ Chủ tịch, cần phải suy nghĩ, hứa những gì. Viết phải cô đọng và súc tích, không dài dòng, Bác không có thì giờ để đọc cái tràng giang đại hải, tốt nhất là học cách viết của Bác để viết cho Bác, tôi viết và bức thư của tôi dược chọn gửi lên Bác, tôi vô cùng sung sướng. Vì như thể hiện cái chung của nhiều người. Mọi việc xong xuôi, mồng  5 tết chúng tôi lên đường. Đây là cái tết xa nhà đầu tiên. Tôi nhớ nhà da diết, nhớ chị, nhất là cậu em còn quá trẻ, mồ côi và  đơn độc, nhớ cái tết Quảng Ngãi nhiều bánh mứt. Tôi biết nhiều anh em khóc vì để lại quê nhà vợ con trong cảnh giặc giã. Nén tình cảm, con tim thương nhớ để đi làm nhiệm vụ.

Đội 38 chúng tôi được đưa lên Lạng Sơn để khôi phục con đường sắt Mục Nam Quan –  Hà Nội. Quang cảnh đầu tiên chúng tôi nhìn thấy khi đến Song Hóa rừng như ai đốt, lá đen. Rừng chết rét, nhiệt độ lúc bấy giờ là 1độ C. Nếu tối anh để một chậu nước thì sáng ra có một lớp băng trên mặt. Rừng thì chết rét còn người thì sao? Nhất là đối với những con người miền Trung gần như quanh năm chịu nóng. Đối với  chúng tôi, đây là cái rét cực kì, chưa từng gặp.  Ở đây nếu không lao động để nóng người lên, mà ngồi thì run cầm cập, hai hàm răng đánh vào nhau, hai chân cóng buốt.

Buổi lao động đầu tiên là mặc quần đùi, lao xuống cống Mai Pha dọn đá để làm cống mới, nhiều chỗ sâu đến thắt lưng. Nước giá buốt, da thịt như chịu muôn ngàn mũi kim ủ lạnh đâm vào, phần không ngâm nước được ấp bằng áo trấn thủ, mũi ni che tai. Môi anh nào anh nấy thâm tím. Vì đá ngầm dưới nước không nhìn thấy nên phải mò, hòn nhỏ một người, hòn lớn phải vài người nâng. Ở tư thế lom khom lâu nên lưng rất đau, nhiều khi bước không thăng bằng ngã dụi xuống ướt cả người, nếu không kịp thả, tảng đá rất dễ bị thương.  Công việc mất hàng tuần, đối với những học sinh không bao giờ lao động như  tôi quả là quá sức. kết thúc một ngày lao động, người đau như dần, như bị ai tra tấn, đánh đập, các khớp xương đau nhức, nhưng bù lại, ai cũng ăn như  Hổ sau những giờ lao động, mệt ngủ như chết trong đêm. Ngày này qua, rồi ngày khác lại qua mỗi lần khó nhọc, mỗi lần bị thương tích do thiếu cẩn thận dễ gây nản chí, tôi thầm đọc câu “ Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền…”  để trấn an mình và nhớ những gì khi viết trong quyết tâm thư .được lao đông đầu tiên kết thúc  là một chiến thắng ban đầu đối với tôi và những người học  sinh chân tay trắng nõn. Vượt qua đợt thử thách rất quan trọng vì vạn sự khởi đầu nan. Tôi rất mừng vì không ngã, phải tập chai lì và bền gan. Đợt sau là đào đất, gánh đất, đắp đường, đầm nền… Đợt này tôi được phân gánh đất trước, mới một buổi đã sưng cả hai vai, rụt cổ chân, vừa chạy, hai vai vừa đỡ đòn gánh. Chiều tối đem theo chiếc áo trấn thủ lót vai để gánh, tối về họp rút kinh nghiệm góp ý: “tôi được góp ý là tiểu tư sản quá mức, lấy áo chống rét lót vai”. Ngày hôm sau phải gánh trần, chỉ vài ngày, vai đỏ tấy, phồng rộp, có muốn gánh cũng không được, chiều phải xuống y tế xin thuốc. Y tá đề nghị đổi sang việc khác chờ lành vết thương, không gánh thì đào. Đào được vài ngày thì đôi tay phồng dộp, tôi lại xin sang đầm, hai người cùng nâng đầm lên bỏ xuống dễ chịu hơn nhiều, lành vai tôi xin đi ghánh, sưng vai lại xin đi đào, rồi đầm, san đất… cứ phải quay vòng cho quen. Tôi hiểu đối với mình chưa quen thì nặng nhọc, chứ người lao động thường xuyên là đơn giản. Vì vậy phải cố tập cho quen.

Lý lịch bản thân tố cáo tôi là giáo viên dạy toán cấp 2, những tờ bích báo tố cáo tôi chữ đẹp, trình bày tốt, những buổi giải trí tập thể tôi bị phát hiện là hát hay, đàn được… vì vậy ngoài lao động hằng ngày tôi được giao nhiệm vụ dạy bổ túc văn hóa lớp 4, soạn bài để dạy cho anh em trong đơn vị, tham gia văn nghệ: Múa hát, đàn, viết báo, trang hoàng báo, gian khổ nhiều càng mơ ước nhiều, càng yêu đời và thiết tha yêu cuộc sống “ gian nan đời vẫn ca vang núi rừng”. Tôi còn nhớ bạn hát với tôi ngày ấy là Nguyễn Đăng Bản –  hát góp vui khi tham gia cải cách ruộng đất, tôi cùng anh ấy hát bài “ Mặt Trời bừng sáng cánh đồng quê, lúa đã về dân cày…” Anh đã chết sau khi về Hà Nội, và người ta bảo rằng anh bị điện giật. Anh người nhỏ, có đôi mắt sáng, da hơi xanh, tóc dựng lên… Có lẽ đến hơn 40 năm rồi mà hình ảnh anh vẫn còn in lại trong trí nhớ tôi. Đơn vị yêu cầu gì tôi làm nấy và làm hết mình, cố gắng giữ kỷ luật thực hiện nội quy, cố giảng dạy tốt, an hem không hiểu thì  mình tìm cách kiên trì làm cho bạn hiểu, tiếp thu được. Khi thi lớp tôi B2 đậu 100%. Lớp học cũng rất đặc biệt, nay đây mai đó, thiếu không gian tĩnh, đường đi tới đâu thì lớp theo tới đấy.  Hôm nay dưới bóng cây của bìa rừng này, mai dưới chân ngọn núi kia. Mỗi người một tấm ván nhỏ kê lên đùi để viết. Học thường sau giờ lao động buổi trưa hay chủ nhật. Vì vậy người dạy kể cả người học đều phải  nổ lực lớn. Dạy và học thật sự không phải là việc phong trào hay hình thức để báo cáo thi đua. Nhiều người hồi ấy học lớp 4, tám , chin năm sau đã là kỹ sư như ông bạn Trần Dân, Phạm Văn Trân…cũng có người là Phó tiến sĩ.

Khi lao động đã thành thói quen, còn phải chống rét, nhất là lúc gió mùa Đông Bắc, trời rét cộng với độ ẩm cao thốc vào mặt buốt, tê cóng, nếu bỏ mũ ra một lúc đầu như tê dại. Dạo ở Bản Thí xa nhà dân phải làm lán trại để nằm, lán cao nhưng lại không có vách ngăn, đêm về nhiệt độ trong nhà cũng như ngoài trời. Tôi và anh Lương Nhì B trưởng có bốn chiếc chăn, hai trải dưới làm đệm, hai đắp, mũ mão đội vào, bít tất cả tay chân, mặc áo trấn thủ, quần vệ sinh, thế mà cái rét như những sinh vật biết len lỏi vào bên trong cào cấu, làm người tê buốt, gió mùa đông bắc hành hạ lính miền Trung đến khổ sở.  Chúng tôi nằm theo kiểu úp thìa. Lúc thì anh Nhì làm ấm lưng tôi, lúc thì tôi làm ấm lưng anh, thay nhau mà ấp. Lo nhất là lúc anh ấy ngáy sâu quên nhiệm vụ! Chúng tôi đêm tối chung chăn từng đôi tri kỉ… Nếu ở phương Tây người ta cho là pọn pê đê. Tình bạn, tình đồng chí làm tan giá lạnh giữa những anh học sinh và những chàng trai có tình đồng đội, có bản lĩnh và được chuẩn bị kỹ về tinh thần ý thức tổ chức và kỷ luật – chúng tôi chạy đua với thời gian, phải làm thêm giờ, quên cả chủ nhật, nghỉ ngủ, tắm giặt, khâu vá cái gì cần làm cũng phải suy nghĩ theo thứ tự trước sau, ưu tiên giấc ngủ để đủ tỉnh táo làm việc ngày sau, tránh tai nạn lao động, vì vậy đôi khi ăn xong nằm lăn ra ngủ không tắm, không thay quần áo, ngủ trưa trên đôi tà vẹt kệ dọc đường, mồ hôi của ngày này đắp lên mồ hôi của ngày qua và trước đấy. Dù anh là trí thức hay lao động chân tay thì loại mồ hôi lưu cữu vẫn khắm như nhau, có điều là trong khi không có điều kiện cái tốt thì trong những cái xấu, anh phải chọn cái xấu ít tồi tệ nhất để đảm bảo an toàn.

Lao động là bài ca lặp đi lặp lại suốt một quãng thời gian và ăn uống cứ hay lặp lại, thiếu thức ăn…bộ phận anh nuôi phải về tận Phủ Lạng Thương tải rau xanh, cá thịt lên, nếu không thì cứ phải ăn thịt trâu, ngày tháng dần trôi tạo cho anh thói quen, đôi khi thành phản ứng tự nhiên nhưng trong điều kiện đất nước bị chia cắt, gia đình ly tán thì cái ngày tháng ấy không trôi đi vô tư mà đong đầy nổi nhớ, cái nhớ da diết, càng nặng nề khi người thân biệt vô âm tín. Nhu cầu tình cảm vượt lên trên cái nặng nhọc, khó khăn vất vả của lao động, đè cái thiếu thốn xuống hàng thứ yếu. Thiếu rau xanh, ăn nhiều thịt trâu, thiếu cá tươi không ngang bằng với thiếu tình cha con, thiếu cái âu yếm của vợ chồng. Địch dù có làm gì vợ con anh, anh cũng không hề biết, anh khát khao một dòng chữ của người thân cũng không khó. Trường hợp của tôi vợ con đỡ nặng nề hơn, khổ nhất là những anh đã có gia đình, nhiều khi nhìn họ buồn nhớ đến là thương. Họ nhìn vào không gian vô định, đôi mắt đượm buồn. Có anh không nén được, nước mắt chảy ròng ròng, anh thì chép miệng buồn phiền. Nhìn anh Cao Chẵn khóc tôi vô cùng xúc động, rất thương; có lẽ tim anh rỉ máu, nên nước mắt ràn rụa, lông mi không cản được những giọt nước mắt  buồn, chảy trên đôi gò má, lòng mắt đỏ hoe.

Qua tâm sự mới biết được cái ngày Bắc đêm Nam như thế nào! Cái nhọc nhằn lao động đối với các anh nhẹ như bấc, cái đêm Nam nặng như chì. Nằm không ngủ mà suy nghĩ, tưởng  tượng lắm điều, lắm chứ không may đối với người thân gia đình. Có anh chọn tâm sự cho nhẹ nỗi lòng, để bạn cùng chia sẻ. Một dạo ở Đồng Mỏ tọi gặp anh bạn thân cùng học cấp 2 trước kia. Anh ta vừa cưới vợ thì ra đi. Anh kể để lại bà xã xinh đẹp, duyên dáng rất yêu anh. Tôi gợi cho anh nói. Cái thật thà yêu đương của anh làm bật mí  mọi chuyện sâu kín, thiết tha… Tôi trêu: “Đúng là đứa dại, vợ như thế mà sợ bỏ của chạy lấy người, đáng lẽ phải ở lại  có việc gì thì ra tay Thạch Sanh, đánh ó cứu nàng tiên thì mới xứng danh anh hùng chứ lị!”. Anh khóc, tôi cười. Anh biết là tôi trêu anh, sằn đòn gánh lót ngồi anh ném vào tôi, tôi  bỏ chạy. Biết là mình trêu chọc không đúng chỗ, vài ngày sau tôi làm thơ tặng anh:

Trời vừa hừng sáng, lá còn sương

Ngày anh đi, em tiễn lên đường

Qua sông, lối rẽ em dừng bước

Đò sang ngang mắt ướt yêu thương

Anh sang rồi em vẫn đứng trơ

Ngoái nhìn anh vẫy em cùng vẫy

Hẹn Bắc Nam thống nhất em chờ

Anh đi về Bắc cùng cha Đảng

Em gửi theo lời chúc muôn năm!

Và hai năm em giữ đồng xanh

Cùng nhịp nhàng tay anh kiến thiết

Quê hương tươi chung sức ta giành

Cho tình ta thắm lại như  trăng rằm trung thu

Trăng trunng thu khi lu khi sáng

Lòng em thì lai láng yêu anh

Mong sao ngày tháng trôi nhanh!

Hiền Lương, Bến Hải đón anh quay về.

Anh đọc bài thơ tôi tặng anh, anh cười nói “mày là cái thằng chó!”, tôi lại cười. Đang nghỉ giải lao, sẵn đòn gánh chống tay, tôi đập nhẹ vào mông anh một cái và nói: “Hòa 1-1”. Anh như nghiện nói chuyện vợ và tiếp tục kể về những điều tha thiết lứa đôi của vợ chồng anh, chúng tôi lại chia sẽ niềm vui nỗi buồn.  Tất cả những trêu chọc, chòng ghẹo cũng chỉ là để giải khuây, tự làm vui mình trong lao động vất vả.

Đấy là chuyện những anh đã có vợ có con, còn chúng tôi hơ hớ độc thân thì sao? Xa gia đình cần có tình cảm, tình yêu, nhưng ngày ấy có một ý nghĩ áp đặt tương đối đơn giản: “ra Bắc là để kiến thiết làm đà cho việc đấu tranh thống nhất đất nước, 2 năm rồi sẽ về, nên gác lại mọi chuyện yêu đương. Thế là chỉ được nhìn người ta tỏ tình và yêu nhau mà mình không được phép” . Ở Lạng Sơn có các dân tộc Tày, Nùng và Dao, thường vào các phiên chợ thanh niên nam nữ lập thành hai tốp để hát ví lượn, hát để tỏ tình như ở miền Nam hò giã gạo đêm trăng… Còn lính ta chỉ biết đứng ngây nhìn những cô gái trắng nõn nà duyên dáng , da mịn như trứng gà bóc, đôi má ửng hồng. Chàng nào có quấy lắm thì cũng chỉ đứng chờ cho các cô gái giải tán nói với theo vài câu cho  đỡ khát: “Yêu lắm lố! yêu lắm vớ!” (1). Cô nào quay lại  nhìn, lính ta cười trừ rồi bỏ đi. Nhiều khi “giải trí tình yêu” bằng cách nói chuyện tiếu lâm để rộ lên tiếng cười. Về trò này anh Nguyễn Văn Long có thể xếp vào loại thượng hạng. Dạo ở Than Muội, có cô bán hàng bên đường, đầu chit khăn mỏ quạ với khuôn mặt không cân đối, má bên trái bị tật lõm vào và có sẹo, mắt trắng dã, da đen…lính ta anh nào cũng chê hết nước hết cái. Anh Long nói: “bọn này phải nhốt hoặc làm việc lâu trong rừng không có lấy một bóng đàn bà nào, khi mà chúng mày thấy Khỉ cái cũng đẹp thì hết chê cô này. Tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh, nếu cần ban ngày không tắt Mặt Trời mọc được thì lấy khăn mùi soa che mặt lại, lúc ấy thấy đẹp tất”. Một dạo tôi được triệu tập về cơ quan đội trình bày báo, viết báo ở Đồng Mỏ, tôi thường thấy một đoàn viên thanh niên xung phong cứ sáng sáng chiều chiều “làm công tác dân vận, giúp dân” nhưng thực tình là yêu không dám nói mà tỏ tình qua đôi vai của mình. Hỏi ra mới biết anh là người Bình Định, tôi nảy ra ý trêu chọc bằng bài thơ:

Song Hóa, Bắc Lệ, Chi Lăng (2)

Lạng Giai, Lạng Nấc, Đồng Đăng đã từng

Anh đi để lại sau lưng

Kỳ Lừa, Đồng Mỏ xin đừng quên em!

Càng đi càng thấy nhớ thêm

Ngày gánh đất, chiều thêm gánh hàng

Anh đi anh nhớ hai nàng,

Nàng xinh mắc cọt, nàng thơm hương hồi

Anh đi, anh nhớ núi đồi

Bưởi rừng, ổi dạt, ớt cay bên đường.

Ra đi để nhớ, để thương

Dấu chân in lại gửi lòng vào ai?

Một hôm tôi chờ anh gánh hàng ra khỏi chợ, ở khúc quanh chạy chậm, tôi rảo bước theo anh đọc bài thơ trên. Nghe xong anh hét lên sừng sộ, đặt gánh hàng xuống định gây sự. Nhưng tôi sẵn sàng chờ anh phản ứng, bằng cách lờ tịt như người đọc thơ cho vui không liên quan gì đến ai. Đi được hơn chục bước tôi quay lại, ngược hướng cũ thấy anh ta nhặt những vải sồi, những hộp rỡi vãi. Lúc tôi đến thì cô chủ hàng cũng vừa đến, định gây sự với tôi, nhưng giai nhân đã cúi xuống cùng nhặt, anh ta hãm ngay cơn thịnh nộ.

ở Lạng Sơn trong rừng có quả “Mắc cọt” – loại lê rừng có vỏ thô rám màu nâu, tôi gán cho cô chị xinh “mắc cọt”, nhưng giống quả ấy lại không xinh; nàng thơm hương hồi dành cho cô em – Hoa hồi thơm đằm thắm, ngát hương người ta dùng dầu hồi chữa bệnh và hương liệu nước hoa, vị phở. Trong bài thơ tôi cố đưa cây trái và các địa danh xứ Lạng dọc đường xe lửa để  nhớ.

Đông qua, xuân lại và hè về, núi đá xứ Lạng chạy dọc hai bên đường hấp nhiệt Mặt Trời, lại chi trả vào không gian của thung lũng như một chiếc thảo rang lớn, nung nóng ghê người. Khi miền đường đã xong chúng tôi lại chuyển sang rải tà vẹt, rái đá, kéo rây, quai búa, đóng đanh,bắt bu lông, ốc vít dưới sự hướng dẫn của công nhân và cán bộ kỹ thuật Trung Quốc, quay ngược về Nam. Công việc đã có hơi hướng kỹ thuật, nhưng vẫn nặng nhọc, cường độ lao động vẫn không giảm, những động tác yêu cầu chính xác hơn nhất là quai búa đóng đanh vào tà vẹt để giữ ray, một người dùng xà beng có điểm tựa nâng tà vẹt lên cùng với thanh ray; hai người, một trong lòng đường một ngoài đứng chéo nhau, quai búa nện vào đầu đanh, tán đanh phải ôm sát mép ray, phải cẩn thận nếu không anh nện vào đầu bạn hoặc thanh ray thì tay anh đau điếng, động tác tiêu hao nhiều năng lượng và tập trung ý chú ý cao. Còn rải đá tuy không nặng nhọc, nhưng khi lính ta nghe còi tàu hối hả chạy đến thi nhau dùng xẻng hất xuống tung bụi mù mịt đến ngạt thở, càng tranh  thủ làm nhanh để nghỉ nhiều, thì càng hít bụi nhiều. Xong đấy chèn đá vào dưới tà vẹt, cân chỉnh ray đảm bảo độ cong cần thiết của đoạn ray, độ song song và khoảng cách nằm trong phạm vi dung sai cho phép…ray nối dài đến đâu thì đầu máy kéo các toa chở đá, tà vẹt, thanh ray đến đấy. Lúc bấy giờ đầu tàu vẫn là đầu máy hơi nước, tiếng còi tàu như voi rống vang xa, dội vào vách đá vọng trở lại làm loáng vỡ không gian yên tĩnh, đánh thức con đường ngủ có lẽ 3000 ngày, dài bằng cuộc kháng chiến trường kỳ, khơi động niềm vui lao động kiến thiết, báo tin vui mỗi ngày khi đường tàu được kéo dài thêm, cũng là thời điểm núi rừng thay lá, non xanh hồi sinh. Giai đoạn lao động mang màu sắc kỹ thuật này kích thích ước mơ của tôi trỗi dậy mạnh mẽ. Thời điểm này tôi không còn thấy lao động chân tay khó khăn và cũng chả sợ lao động chân tay nữa. Tôi khát khao kiến thức, ít ra thì cũng học thiết kế chế tạo được với đầu đằng kia của con đường sắt, con đường chưa cắt băng khánh thành, nhưng có một đoàn tàu đưa cán bộ khoa học kỹ thuật từ Trung Quốc trở về. Đoàn tàu dừng ngay giữa đường, chờ cho phía trước tu chỉnh cho thật an toàn, tôi tò mò nhìn xem có ai quen không, tôi phát hiện được giáo sư Hoàng Tụy, ngay từ năm đầu tôi học trường trung học Lê Khiết, thầy đã dạy Toán, thầy ra Bắc rất sớm trước ngày trường bị ném bom 1949. Tôi đến chào thầy, hai thầy trò nói chuyện được một lúc thầy khuyên tôi hãy lao động tốt và đón bắt thời cơ vì thầy biết Nhà nước đang cần nhiều cán bộ kỹ thuật sắp đến sẽ đào tạo ngày càng nhiều. Khi đường được nối thì nửa mùa thu đã qua. Đã đến lúc chúng tôi giã từ Lạng Sơn. Đi mà vẫn mang theo nỗi nhớ: Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh.

Tôi có một kỷ niệm chua xót: Thanh Niên xung phong đội chúng tôi tham gia đấu địa chủ ở Chi Lăng. Người ta lập tòa án nhân dân tuyên án và xử tử anh xã đội trưởng dân quân. Anh là con độc nhất của bà mẹ Tày, vợ anh đang đang có chửa. Lúc ấy tôi cảm thấy có một điều gì bất thường. Chỉ một phụ nữ đẹp tố cáo anh là quốc dân đảng, phá đường tàu, không có chứng cứ, khi anh thanh minh chưa nói hết một câu, thì “quan tòa” của đội cải cách giơ tay lên đả đảo, rừng người thẳng tay giơ cao và đả đảo theo, làm át cả tiếng thanh minh. Rất nhiều lần anh trở thành thấp cổ bé họng. Sau đấy thì người ta cũng hội ý. Thời gian tòa hội ý chúng tôi góp vui văn nghệ. Sau đấy là kết tội: “Tên Vi Văn…bị xử tử đồng bào có đồng ý không?” – Mọi  người gần như đồng thanh và bản án được thi hành ngay sau đấy. Tôi thấy tòa án kiểu này rất nguy hiểm. Khi giơ tay biểu quyết tôi không giơ, cái may là không ai thấy, và may là mình nghĩ không sai. Đội tôi được điều về xuôi, chỉnh tu đoạn đường từ Văn Điển đến Phủ Lý. Bấy giờ tôi thấy việc này dễ dàng, chẳng nặng nhọc gì, bả vai và hai bàn tay đều chai cứng đến lúc chả sợ bất cứ lao động kiểu gì. Rồi  chúng tôi được điều đi hướng Tây Bắc. Từ Đông Anh về hướng Lào Cai, qua những ga Thạch Lỗi, Hương Canh, Vĩnh Yên, Phúc Yên rồi Bạch Hạc, Việt Trì… Dạo ấy cuối thu nắng chiều vàng như mật, trời se se lanh, lao động làm ấm người dễ chịu, công việc tiến nhanh, nên đơn vị không trú lâu một nơi nào. Vì vậy, những địa danh thì còn nhớ, nhưng những nhà dân cho trọ thì nhiều quá không  nhớ nổi và thậm chí không nhớ mặt họ, vì sáng tinh sương đã ra đi mà tối mịt mới về. Chúng tôi ra đi thì họ còn ngủ đến khi chúng tôi về thì họ đã ngủ rồi, nhất là lúc sắp chuyển quân lúc ấy nơi làm đã khá xa nơi ở về lại quá muộn. Họa hoằn mới nhìn thấy mặt chủ dưới ánh đèn dầu hỏa leo lắt, nên hình hài mặt mũi cũng chả thấy được rõ. Nhưng có một người tôi nhớ nhất, vì ông ta thức khuya cặm cụi tập đánh vần từng chữ, ngày nào cũng thấy mặc bộ quần áo nâu, người gầy, mặt nhăn nheo, thiếu sinh khí, chậm chạp. Ông ta được đội cải cách đưa lên làm chủ tịch xã, nhưng không biết chữ chỉ được mang danh “bần cố nông” ba đời! Nổi máu thầy, tôi thường chỉ ông đọc, nhưng cảm thấy buồn vì người ta đưa lên một ông chủ tịch như thế này! Bấy giờ cuối thu 1955 những vùng chúng tôi đi qua vừa được giải phóng hơn một năm, nhân dân chưa thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, nhưng trong tay đã có đất ruộng nên họ vui. Chủ nhật nào được nghỉ, được tiếp xúc với dân rất vui như cá gặp  nước. Do công việc khẩn trương nên ít khi được nghỉ, ngày nào chuyển quân vừa đi làm vừa mang theo ba lô, đồ đạc… Mùa thu đi qua, chớm đông, chúng tôi vượt Việt Trì, qua bên kia sông Lô, địa đầu của miền Trung du, lúc bấy giờ cầu Việt Trì sang được nhưng vẫn chưa xong hẳn. Chúng tôi vẫn tu chỉnh đường, tiếp tục hướng Tây Bắc về Tiên Kiên, Phú Đức, Phú Thọ, Chí Chủ, Vũ Ẻn… địa danh ven sông Thao, nơi các cô gái đen màu da bánh mật, duyên dáng… Thời ấy nhiều cô vẫn mặc xiêm áo của nàng Eva để tắm và xin xà phòng anh bộ đội rất tự nhiên. Sông Thao nước đục người đen, ai lên Vũ Ẻn thì quên đường về…không những con người mà thiên nhiên miền Trung du rất gợi cảm…”Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt, nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát…”. Thơ mộng như những câu thơ của bác Tố Hữu. Tháng 12 dương lịch những khi nắng chiều ngự trị trên những vườn cam quýt đỏ ối hai bên đường, hồng, bưởi trái mọng, cây sai trái, tiếng cu gù, tiếng cồng vang xa, trâu đeo mõ lóc cóc, những nếp nhà lợp lá cọ ngay  ngắn ta cảm thấy rất yêu đời. Đã bốn mươi lăm năm trời trôi qua mà bây giờ tôi vẫn hình dung được cảnh và người như vừa mới thấy ngày hôm qua, gợi tôi nhớ lại mấy câu thơ tôi làm về chiều Trung Du:

Chiều buông rèm sương che núi xa

Cồng vang giục giã gọi trâu về nhà

Khói chiều dâng nhẹ màu lam biếc

Nhà ai đung bếp ấm tim ta

Miền Trung du làm tăng thêm lòng yêu nước, yêu thiên nhiên Việt Nam trong tôi đến lạ thường. Vì vậy lao động  đối với tôi là niềm vui, là bài ca cuộc đời của thanh niên của thanh niên đi khai phá, xây dựng. Tiếp tục vượt Vũ Ẻn cho dù các cô gái ở đấy đẹp, thiên nhiên đầy màu sắc huyền ảo. Nhiệm vụ còn chưa hoàn thành, con đường còn đang cần người chăm sóc, mà đất nước đang cần đường, chúng tôi vẫn hát điệp khúc của bài ca lao động. Mùa đông lại vào sâu, chúng tôi theo nó bước đến Hạ Hòa, Ấm Thượng, Đoan Thượng, Văn Phú. Càng đi tiếp cái rét đậm thêm, rét ngọt. Chúng tôi lao động xuyên qua mùa đông tê cóng, mùa hạ nung người khắc nghiệt mưa dầm xối xả của tỉnh địa đầu phía bắc Lạng Sơn, rồi lại mùa đông giá buốt, khi tiến về Yên Bái con người như cục thép được ném vào lò lửa, tôi trong dầu hoặc muối. Rồi kéo dài ở nhiệt độ bình thường, để đảm bảo không gian nở, người ta lại quẳng vào tủ lạnh -70oc lại để đấy đến vài ngày đêm. Kiểu tôi kép nóng và lạnh để biến Ostenit dư thành Mactenist. Chi tiết máy bằng thép mà tôi kiểu này khi gặp nóng cao, hoặc rét đậm cũng không bị ứng suất nhiệt chi phối, bền và trơ với thời gian năm tháng kéo dài. Có lẽ đến đây thì thượng đế đã gật đầu để người sử dụng đem ra dùng một cách an toàn mà không run tay. Tôi nhớ tại ga Yên Bái sáng mùa đông năm ấy, khi tung chăn ra chuẩn bị đi làm tôi cảm thấy buốt lạnh thấu xương, nhìn ra ngoài đầy sương giá. Vừa xếp chăn màn ngay ngắn thì có lệnh: Anh A, anh B…Anh H ăn sáng xong lên văn phòng C. Tại văn phòng C anh Trương Quang Hương C trưởng thông báo chúng tôi được cử đi học. Nghỉ lao động và triết lí chuẩn bị lên đường về Hà Nội.

NHỮNG MẺ THÉP RA KHỎI LÒ

Thép sau khi ra khỏi lò có nhiều mẻ mang tính năng khác nhau như chịu va đập, chịu mài mòn, bền  nhiệt, có tính đàn hồi, không rỉ, chống ăn mòn… Con người được tôi luyện cũng phải có những tính cách: Tình bạn, tình đồng chí, có bản lĩnh, trung thực, có ý chí dẻo dai, bền bỉ… để đứng vững trước cám dỗ, ngang trái và những biến cố chính trị, xã hội. Từ thanh niên xung phong chúng tôi kẻ trước người sau ra đi nhưng cùng mang theo những nét đặc trưng chung. Mỗi người một ngã, giờ đây đã về hưu cả rồi. Tôi muốn kể một tí về mình như những lời tâm tình, cách hành động, học tập, làm việc, cũng có thể là những kỉ niệm cho các bạn thanh niên xung phong các thế hệ đi sau.

Tôi đã qua nhiều cơ quan, nhưng để đạt được kết quả những gì mình mong muốn thì ước mơ phải có, vì nó là cái la bàn, kim chỉ nam dẫn hướng cho cả cuộc đời . Cái có trước phải là đà, nền móng cho cái sau để nâng cánh ước mơ. Được đi học Nga văn, sau khi ra trường tôi được giữ lại học sư phạm để đi dạy, vốn không thích dạy có đợt lấy phiên dịch bổ sung tôi xin đi và được điều về trường trung cấp kỹ thuật 3 Nam Định dịch sách giáo khoa và kỹ thuật. Tôi vừa học thuật ngữ vừa học kiến thức để bổ sung cho năm cuối cấp 3 còn thiếu. Bạn rủ đi dạy Nga văn. Thời ấy phong trào Nga văn rộ lên, rất dễ kiếm tiền, nhưng tôi không đi và trả lời anh bạn: Cái hiện nay mình cần là chữ, chứ không phải là tiền. Vì kiến thức để ra đời chưa đủ cho hiện tại và tương lai, ta không làm việc bán lúa non, mà bán lúa non ắt sẽ dẫn đến đói, hãy chuẩn bị cho cuộc đời, cho công việc tương lai thật kỹ về mặt con người, nhân văn, kiến thức, biết học và biết làm, nhất là đạo làm người. Say mê và khẩn trương học tập, nhiều khi tôi học đến quá 12 giờ đêm. Cơ hội đến, tôi kịp nắm bắt: vừa ôn bổ túc văn hóa xong thì có thông tư liên bộ nội vụ và giáo dục cho con em miền Nam đi học, không nhất thiết phải đủ năm tháng phục vụ mới cho đi. Tôi chuẩn bị việc thi với điều kiện khó khăn nhất nên đã đi thì là phải đậu. Sauk hi đậu tôi gặp hai rắc rối: – Hiệu trưởng trường kỹ thuật không cho đi và không cho giấy thôi trả lương. Thời bấy giờ tuy là hiệu phó, nhưng là bí thư đảng ủy nên có quyền hơn. Ông cho tôi đi và thương lượng với chị Nguyễn Thị Khuê cho tôi mượn tiền ăn học, lúc nào có giấy thôi trả lương truy lĩnh và trả lại. Tôi được đi học nhờ tình bạn, lòng nhân ái. Mượn rồi là trả sòng phẳng, nhưng tình nghĩa không bao giờ sòng phẳng như chuyện tiền bạc, vì như ta thấy nếu lúc bấy giờ không có sự giúp đỡ quý báu ấy thì cuộc đời con người có thể hoàn toàn khác. Nên anh đừng bao giờ lấy tiền để trả ơn theo kiểu ăn bánh trả tiền.

Người ta đi kiện cái thông tư kiên bộ mà theo đó thì tôi được cử đi học. Không ai khác chính là người đã rủ tôi đi dạy Nga văn. Tôi vẫn được đi học. Sau này gặp lại anh ta tôi nói: “Cậu thật không công bằng, cậu đi dạy có tiền, tớ đi học có chữ. Ý mỗi đứa đều được toại nguyện, sao cậu lại đi kiện? Tiếc là tớ có thằng bạn quá tốt!”. Vào học trường đại học Bách khoa Hà Nội được một năm thì năm sau không áp dụng thông tư này nữa. Ở đây tôi muốn nói một điều là, thời cơ không phải lúc nào cũng có, ít khi có đến lần thứ hai “ phước bất trùng lai”. Nên  khi đã có một ước mơ phải luôn luôn chuẩn bị và khẩn trương, cơ hội sẽ không vuột khỏi tay. Khi đã chộp được cơ hội phải dồn sức lực, ý chí để biến ước mơ thành sự thật. Trong mọi dạng lao  động, lao động học tập, nghiên cứu là dạng lao động nặng nhọc nhất, cần nhiều năng lượng nhất, năng lượng của thể lực và trí lực. Bốn năm ở trường tôi nỗ lực vượt bậc, phần để bù lấp vào chỗ hống tự học, phần để khắc phục bệnh tật, bệnh ủ từ những ngày thanh niên xung phong, bệnh thấp khớp dẫn đến dạ dày. Gần cuối năm thứ hai bệnh rất nặng: tôi đi chậm, không thể chạy lấy một bước, không thể ngồi được đến nửa giờ và đứng đến quá 10 phút. Đầu, lưng, các khớp đau nhức khủng khiếp. Tôi dường như không gượng dậy được nữa. Phải vào bệnh viện và chắc là phải ở lại lớp. Người ta phát thuốc tôi uống ngấu nghiến, đáng lẽ uống sau khi ăn, tôi làm ngược lại. Bệnh hơi giảm, tôi trốn rat hi. Cuối cùng chỉ thi lại môn Vật lý vì không học kịp chương cuối. Nhưng do hậu quả của việc không biết dùng thuốc nên sinh ra bệnh loét hành tá tràng. Hai bệnh hành hạ tôi ghê gớm. Kiên trì chữa bệnh và kiên trì học, nghe giảng tại giảng đường, ngồi học trên ghế chờ đến lượt vào chữa bệnh phải mất gần hết năm, chịu đựng đau nhức để học, vậy mà tôi vẫn học khá. Tôi có thuận lợi hơn các bạn khác là giờ học tiếng Nga tôi được miễn và đọc sách tiếng Nga dễ dàng, ông bà mẹ nuôi người Nga gửi cho tôi nhiều sách quí và thuốc chữa bệnh, tôi đã thấy được tầm quan trọng của ngoại ngữ. Tháng 6 năm 1963 , tốt nghiệp, tôi được cử về phòng nghiên cứu thiết kế Bộ công nghiệp nặng. Nghiên cứu các bản thiết kế công nghệ của nước ngoài và phê duyệt –  mới ra trường mà phải làm việc trên sức mình với các chuyên gia nước ngoài Liên Xô, Trung Quốc, Hung… Họ hơn mình cả cái đầu, vì vậy ngoài giờ hành chính, phải đến thư viện trung ương đọc rất nhiều, ăn cơm tối xong là đến thư viện đọc cho đến khi thư viện đóng cửa. Thời ấy anh có làm thêm nhiều giờ thì anh cũng chả được cái gì, tôi mon men đọc thêm tiếng Anh, nhưng thiếu thuật ngữ. Tôi  nói “ngôn ngữ bản thân nó không mang màu sắc  chính trị – Tiếng nào dùng phổ biến thì nên học”. Được làm việc trực tiếp với chuyên gia Liên Xô luyện nghe và nói, đồng thời học hỏi rất nhiều trong chuyên môn, nhưng khi phản biện đề án thiết kế thì phải có sức thuyết phục. Do cố gắng lớn nên việc làm có hiệu quả. Có lúc chuyên gia bảo tôi: Anh học tiếng Nga để cãi à! Tôi đáp “Tôi cãi nhờ cách Nga đích thực người Nga viết”, tôi nêu những tác phẩm  và tác giả. Họ cười cầu hòa, rồi đồng ý thay thiết bị mới. Thấy tôi biết cãi, nhưng cũng biết học hỏi thực sự, vì vậy từ cáu kỉnh chuyển dần sang có cảm tình, sơ rồi đến thân, về nước họ lại gửi quà cho tôi. Sang lại lần nào tôi cũng được đề nghị đi theo họ, nhờ đấy mà tôi đi gần như khắp miền Đông Bắc của Tổ Quốc, từ Hải Phòng cho đến Cẩm Phả, Vịnh Hạ Long, Vàng Danh, Uông Bí… rồi Thái Nguyên, Tuyên Quang. Ôi Tổ Quốc đẹp vô ngần!

Tháng 8 năm 1966 được Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp cử đi làm nghiên cứu sinh tại trường đại học cơ điện Plzen, Tiệp Khắc. Năm học tiếng tôi học tốt mấy tháng đầu, thầy giáo tiếng Tiệp giảng bằng tiếng Nga, tôi dịch lại ra tiếng Việt cho các bạn trong lớp. Tháng 8 năm 1967 tôi về nhận giáo sư  tại trường đại học cơ điện Plzen, giáo sư Miloslav Bartuska hướng dẫn tôi nghiên cứu về gia công tia lửa điện – Phương pháp gia công kim loại đặc biệt. Trong nghiên cứu, ngoại ngữ như những chi lưu chảy vào sông đủ sức nâng con thuyền tải nặng sách vở cần giao cho người đọc. Nếu học ở nước ngoài mà tiếng tăm không vững, việc nghiên cứu rất hạn chế và nguy hiểm. Có người đã dịch vở Opera Hồ Thiên Nga của Traicopski thành vở kịch “con mèo uống nước chè”, hay tổ chức thanh niên là tổ chức quần chúng thành tổ chức xôi thịt, khi mua thịt bò phải nói là có thịt sừng. Nói với giáo sư vừa nói tiếng Tiệp vừa đệm tiếng Việt. Bệnh cứ đeo bám tôi, tháng 4 năm 1968 tôi bị mổ ruột thừa, ra viện tôi còn nằm dưỡng bệnh ở ký túc xá tranh đọc để kịp chương trình còn dở. Giáo sư đến thăm tôi, nhìn vào quyển sách tôi đang đọc dở bằng tiếng Anh và hỏi tôi trình độ tiếng Anh, tôi cho thầy biết chưa bằng tiếng Nga và tiếng Tiệp. Giáo sư nhờ một bà dạy kèm anh văn cho tôi một tuần hai buổi. Tôi rất cảm ơn giáo sư và không bỏ lỡ cơ hội. Có những việc đạt được từ ước mơ có chủ đích, có việc nhờ vận hội may mắn, nhưng dù may mắn đi nữa thì ít ra anh phải có cái nền để từ đó xây những viên gạch cao thêm. Tháng 1 năm 1969 giáo sư gửi tôi đi viện VUMA ( Viện nghiên cứu cơ khí hóa và tự động hóa) sáu tháng tại miền Slovensko. Ở đấy người ta đang nghiên cứu các phương pháp gia công đặc biệt như tia lửa điện, điện hóa, tia lazer,và siêu âm. Ngoài đề tài chính tôi tranh thủ nghiên cứu thêm tính chất vật lý công nghệ họ hàng của gia công tia lửa điện như gia công điện hóa, để sau này khi có dịp áp dụng. Tôi tranh thủ ngày đêm đọc ngốn ngấu và nghiên cứu nghiêm túc. Lúc bấy giờ chỉ mình tôi là người Việt Nam nên giáo sư viện trưởng cho tôi nhiều ưu ái, phòng riêng có bếp, điện thoại, máy đánh chữ, ưu tiên được mượn sách vở về phòng, được photo chụp hình ảnh, rửa ảnh… giúp tôi  mượn sách từ các nước ngoài thông qua hợp tác quốc tế khối SEY và bưu điện, đọc không kịp thì viện fotocopie cho tôi. Khi tôi đến đây nhân viên phòng thí nghiệm đã học tiếng Đức được một tuần, họ học chả nhẽ mình ngồi chờ, vì thí nghiệm làm chung và có người hướng dẫn, tốt nhất là mình tham gia học. Tôi phải nói khó với bà giáo dạy tôi những bài đã học, bà sẵn sàng giúp đỡ, vì tự ái dân tộc, học để biết dân ta học như thế nào. Đến hết tháng thứ ba, tôi vượt lên tất cả. Bà giáo bắt đầu chửi những người lười học: “ các anh chị không biết xấu hổ, xem anh Vietnamese kia kìa, anh ấy học tiếng Đức thông qua tiếng Slovensko (không phải tiếng mẹ đẻ cũng chẳng phải tiếng Tiệp – tiếng Slovensko chỉ gần với tiếng Tiệp) mà anh ta giỏi nhất, này cô Ivanka, thứ bảy, chủ nhật đến phục vụ tình bạn, anh ta sẽ chỉ cho học giỏi, không cần phải hỏi tôi”, mọi người tán thưởng, còn cô ta cũng chẳng vừa, đến hôn tôi. Bệnh tật đeo bám tôi như hình với bóng. Tháng 7 năm 1968 và tháng 7 năm 1969 tôi lại đi chữa bệnh dạ dày ở Karlovyvary. Đã hết hạn 4 năm ở nước ngoài tôi muốn là mũi tên vút đi nhanh chóng trở về với người thân vợ con, nhất là xem cô con gái lớn lên trong chiến tranh như thế nào! Song không khỏi bùi ngùi lưu luyến khi chia tay với những con người tuyệt vời, từ giã đất nước Tiệp Khắc xinh đẹp. Đất nước của những danh lam thắng cảnh, đền đài cổ kính, cung điện nguy nga, nền văn hóa mang bản sắc dân tộc Slave nhân đạo, hữu nghị. Tôi quyến luyến với thiên nhiên của những miền thùy dương êm ả và những chốn thiên thai đẹp như mơ. Hình ảnh vị giáo sư già thông thái, giàu tình cảm và tinh tế mãi trong tim tôi. Ông là nhà bác học người cộng sản rất chăm lo tới tình hữu nghị. Tôi bị giải phẫu còn dưỡng bệnh ông đến thăm tôi và tặng hoa, chúc nhau mau lành bệnh để nghiên cứu, làm bớt nỗi bơ vơ, nhớ nhà khi đau ốm. Hơn mười năm sau, trước khi yên giấc ngàn thu ông còn kịp dặn người thư ký hành chính: “ Khi nào tôi chết cô nhớ viết thư cho người học trò của tôi – Anh Khởi biết để khỏi viết thư cho tôi và ngóng tin tôi”.  Và bức thư ấy đã đến – đọc xong tôi áp vào lồng ngực hơi quả tim se lại vì chấn động tinh thần và tình cảm. Tuy là tin buồn, nhưng bức thư đầy tính nhân văn và đã sưởi ấm lòng tôi, sắp đi xa trần thế mà ông vẫn còn nghĩ đến một con người nơi xa xăm, tận góc bể chân trời Châu Á. Kỳ diệu thay tình cảm của một vị giáo sư – điều kỳ diệu này thăng hoa trong trái tim và tâm hồn của những người sống chân thành với nhau, họ thật sự tạo cho nhau hạnh phúc – biết sống để người ta nhớ, mãi mãi làm ta không cô đơn – Còn bà Anna Karlova, một cán bộ kỹ thuật về hưu đến làm thêm ở ký túc xá dọn phòng, chăn màn, đệm… cho tôi và anh bạn, xem tôi như là con và khuyên bảo: “Con đã có vợ con, đừng đi với con gái Tiệp, chúng làm hỏng con!”. Ôi một bà mẹ thánh thiện đến như vậy! Bà thường xin phép trưởng đoàn nghiên cứu sinh đưa tôi về nhà. Khi chia tay bà tôi khóc òa, khóc rất lâu và mếu máo nói: “không biết rồi đây mẹ còn được gặp lại con nữa hay không? Con hãy cầm hộp đồ chơi này về cho cháu nội của mẹ – con gái tôi”. Cách xử sự của mẹ làm tôi không cầm được nước mắt và cảm thấy bớt mồ côi – Tôi cũng không thể nào quên được vợ chồng viện trưởng, tiến sĩ Stanek và bà vợ Stankova. Khi ở VUMA hàng tuần hoặc thứ bảy hay chủ nhật, không chồng thì vợ đánh xe đưa tôi đi thăm danh lam thắng cảnh khắp vùng,  đưa tôi về nhà thổi cơm Việt Nam cho tôi ăn. Khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, cả nhân viên thư viện của viện VUMA trong đó có bà Hosrka – dạy tiếng Đức và cô Ivanka viết thư tập thể gửi chúc mừng Việt Nam, chúc mừng tôi, và kí tên kín… Thư viện này đã giúp tôi nhiều trong nghiên cứu. Còn đây là ân nhân cứu mạng của tôi – mà hình ảnh của cô ta không khi nào phai mờ trong tâm trí tôi, dù cho đến tận bây giờ tên tuổi và địa chỉ của cô tôi không hề biết – Một cô gái dũng cảm  tuyệt vời đầy lòng nhân ái – Tháng 9 năm 1968 giáo sư gửi tôi đi tham quan hội chợ quốc tế về máy bay tại Brno – Tôi cùng hai anh bạn nhân thể ghé thăm đơn vị Việt Nam lao động tại nhà máy chế tạo mô tô đua – Chúng tôi vừa vào trong sân ga Strakonice, một người đàn ông Tiệp đến bảo tôi “cút xéo”, tôi hỏi “anh muốn gì?”, “Tao muốn cái này!”, hắn rút con dao sắc nhọn chĩa vào tôi, tôi chỉ kịp đưa chiếc cặp da lên đỡ – hai anh  bạn tôi còn đang bối rối có vẻ sợ sệt, thì một cô gái cao to chạy đến đẩy hắn ra và quát: “không được đụng đến anh ta! Ới police!” Nghe thấy thế hắn chuồn. Hắn thù người Việt Nam, vì chính phủ ta ủng hộ Liên Xô can thiệp vào Tiệp năm 1968 – hai anh bạn đến xóc tôi đi, tôi không còn kịp nói lời cảm ơn và hỏi địa chỉ cô ta!!!

Đất nước của những bổng lai tiên cảnh như Karlovy Vary, Trenein Marianske Lazne, Frantiskove Lazne Vltavou, Krkonose, Luhacovice, Bratuslava, động Masokha ở Brno…đã sản sinh ra những người có văn hóa, hữu nghị, giúp đỡ đầy tinh thần quốc tế quá đủ để làm nhòa đi hình ảnh tên gây hấn.

Ông cha ta thường nói: “Đáo khúc tùy giang, nhập gia tùy tục” đến đất nước người muốn học hỏi người ta, muốn người ta giúp đỡ mình tốt phải tìm hiểu con người, phong tục tập quán của họ, để ăn ở, đối xử làm bạn và góp phần thắt chặt thêm tình hữu nghị giữa các dân tộc, làm cho người ta yêu thương thông cảm. Cá tính không ai giống ai, nhưng ai cũng thích những cái chung tốt lành cần có của những người tiến bộ và có văn hóa, phải có nhân cách, nhất là khi ở nước ngoài thì phải thể hiện sao cho đừng làm tổn thương đến danh dự của đất nước, dân tộc ta. Cuộc sống tập thể của những ngày ở thanh niên xung phong giúp tôi nhiều trong giao tiếp và sống thân thiện, chan hòa với nhau.

Năm 1970 về nước sung sướng nhất là được trở về trên con đường trước đây mình góp tay xây dựng vơi cái đầu lớn hơn khi đi. Vừa về nước tôi liền đăng kí vào học năm thứ tư trường tiếng Anh ban đêm, học đến hết năm thứ 6. Tháng 7 năm 1970 tôi được điều về nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo. Ở đây tôi áp dụng thành công ngay những gì mình đã nghiên cứu và phổ biến rộng tại các nhà máy, viết báo và sách, dùng phương pháp gia công tia lửa điện để gia công khuôn đập tay biên động cơ Diezel 10 CV, các lỗ hình thù phức tạp và gia công lỗ  nhỏ ᵩ = 0,1 : 0,25, những lỗ mắt thường không nhìn thấy, lần đầu tiên tại Việt Nam giải quyết được , vấn đề xưa nay chưa làm được như lỗ kim phun ở vòi phun bơm cao áp. Cần phải nói thêm một điều khi ở Tiệp làm việc tại phòng thí nghiệm cần cái đầu thì ít ra mình cũng chứng tỏ không thua kém người mấy, nhưng khi xuống thực tế gần công nhân ta phải nói ta là công nhân để họ làm “giáo sư” cho ta, thì họ cố gắng  giảng giải cho người kém hơn mình, mình  sẽ học được điều bí mật công nghệ đích thực nên về áp dụng rất thuận lợi – cũng tại nhà máy này tôi có những kỉ niệm khó quên và cũng là những bài học quý giá trong công tác kỹ thuật, đời sống và về chiến tranh:

–          Do ghen ghét học vị và tiền lương của tôi cao, có một quản đốc giao cho tôi lập quy trình công nghệ loạt vừa chế tạo thử bơm cao áp D 22 – loại bơm phức tạp có đến 200 chi tiết, “ưu ái” hơn anh giao cho tôi cô kỹ sư khởi điểm giúp việc. Cũng công trình này anh giao cho một kỹ sư khởi điểm và một cô công nhân; với ý đồ đôi này không cần học vị gì cũng đủ hạ chúng tôi nốc ao. Đây quả là vấn đề rất khó đối với tôi, chưa hề làm, thiếu kinh nghiệm, cái khó nhất là cạm bẫy. Kể ra từ chối thì có đủ lý do, nhưng như vậy là thiếu bản lĩnh, vì dù sao đã học lý thuyết về công nghệ cơ khí chế tạo. Cái khó mà anh cứ để trong đầu thì nó theo đuổi anh cho đến lúc chết, có làm, động não làm hơi với  cao một tí thì khó sẽ trở thành dễ và mình mới lớn lên và trở nên giỏi được.  Tôi nghiên cứu rất kỹ các yêu cầu kỹ thuật, cái xương sống của vấn đề. Tôi đã thành công trong việc chế tạo đợt đầu 22 chiếc, giải quyết được vấn đề chế tạo những chi tiết siêu chính xác, chính xác cấp 1. Những chi tiết khó chế tạo có năng suất cao, có chi tiết nhóm kia gia công 3 ngày, tôi dùng gá lắp chỉ cần ½ giờ. Họ thất bại, lắp được 3 chiếc nhưng đành vứt đi. Vì chuyện cái bẫy này quản đốc đã bị khiển trách, chuyện trở thành “ Gậy ông đập lưng ông”.

Một vấn đề nữa không liên quan đến kỹ thuật:

–          Tôi có một người bạn làm công tác tổ chức, nhờ tôi giúp học tiếng Pháp, anh hay góp ý và viết đơn tố cáo lên cơ quan cấp trên và Trung Ương về những tiêu cực của giám đốc và một số cán bộ chủ chốt. Người ta muốn bịt mồm anh bằng cách “đánh bẫy”. Khi bẫy đã sập thì khai trừ khỏi Đảng và đưa ra khỏi nhà máy. Tôi thấy đây là việc làm trái nguyên tác Đảng, vô nhân đạo, đàn áp dân chủ. Tôi phát hiện được nhờ việc chơi ảnh không chuyên, nhân viên Cục 78 giả bảo anh H… lấy lí lịch của những nhân vật mà anh hay phản ánh những tiêu cực của họ lên cấp trên đem chụp ảnh đưa về so với lý lịch lưu ở Cục. Tôi hỏi trong điều kiện đèn đóm lù mù, máy ảnh có đèn nháy không? Chụp lý lịch theo kiểu chụp tài liệu, máy ảnh có ống kính nối dài không. Anh bảo: “ chả có gì khác chỉ trần chìa chiếc máy ảnh”. Tôi hỏi thêm: “khám nhà anh có những ai?” – “chỉ có bảo vệ nhà máy”. Đến đây thì gót Asin – chỗ yếu của những kẻ giả danh người Cục 78 lộ rõ. Tôi tìm cách bảo vệ anh, cũng là bảo vệ Đảng, nhưng đứng trước “bức tường” Đảng ủy viên đồ sộ phải có cách làm chính chắn, thận trọng. Anh bạn Quảng Nam có chân trong Đảng ủy cùng đi nghiên cứu sinh ở Tiệp về lưu ý: “ Mày không làm khéo, chúng đánh mày gãy xương sống”, tôi tự tin nói: “chắc là làm được mà, xương sống vẫn thẳng”. Còn bản thân anh Đỗ Huy H…thì ái ngại “Nếu anh giúp tôi thì việc lên chức, tăng lương rất khó”, tôi nói “Nếu người ta sống chỉ vì tiền và chức vụ mà bỏ bạn lúc gian nan thì kẻ ấy hèn, vị kỷ”. Anh có thể chậm lên lương một vài năm mà giúp bạn cả cuộc đời còn lại thì cái thiệt thòi của anh là cái thiệt thòi quý giá! Không có chức, không có ghế đôi khi lại hay, mông đã ngồi dưới đất, khi động đất anh không ngã đau, và dễ lấy lại thăng bằng. Tôi không hám danh nên việc đề bạt lên chức không đáng bàn. Tôi làm mọi cách để đưa việc này ra ánh sáng. Tôi đến Thành ủy Hà Nội, đến Đảng ủy bộ, đến thanh tra Bộ công an…đưa ra những lý lẽ và đề nghị, mặt khác tôi chỉ cho anh Đỗ Huy H… viết đơn đi nhiều nơi để vạch trần thủ đoạn… Cuối cùng trưởng phòng tổ chức và phó phòng tổ chức bị tù, người 7 tháng, người 8 tháng, bị mất Đảng tịch. Bí thư Đảng ủy bị đổi đi nơi khác, giám đốc bị điều đi. Anh H..vẫn tại vị, lên lương. Một số Đảng viên khác ở phòng tổ chức biết sai không dám nói, hỏi tôi “Tại sao anh không phải là Đảng viên mà cả gan làm chuyện – lấy gậy chống trời”. Tôi chỉ cười bảo: “bởi vì các cậu là Đảng viên  mà thiếu dũng khí nên mới đến lượt tớ, tệ hơn là còn ví tớ là Henry Kissinger của anh H…” Nếu anh thấy người ta đàn áp người mà anh không dám nói thi 2 mai này đến lượt anh bị đàn áp. Sức mạnh của con người không nhất thiết phải có chức vụ, người bình thường khi hành động đúng pháp luật, suy nghĩ tốt, làm những gì cả cộng đồng của anh ủng hộ anh, hợp với chân – thiện – mỹ, anh sẽ có sức mạnh, lúc đó ăn cơm cáy cũng ngáy o o. Còn những ai có chức vụ mà hành động sai trái, gian, không hợp đạo lý thì có ăn cơm gà cũng lo ngay ngáy. Tiếng ho lớn của người hàng xóm cũng làm anh giật  mình; tiếng guốc của cô con gái lại nghĩ tiếng giầy của công an.

Mười mấy ngày đêm của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, tôi đưa vợ con đi sơ tán, đêm nằm hầm ngủ để lấy sức ngày đi làm, dù cho ban đêm đạn bom đầy trời, ban ngày đây đó tiếng máy bay phản lực gầm rú, bắn phá. Chiến tranh trở nên quen, giữa cái sống và cái chết chỉ là gang tấc, nơm nớp lo sợ sẽ không làm được việc gì. Tổ quốc đang cần hàng để phục vụ chiến trường, phục vụ sản xuất hàng ngày, việc không thể ngừng, phải khẩn trương – sau tối B 52 rải thảm phố Khâm Thiên, sáng sớm tôi đi cùng giám đốc đến tìm nhà một người bạn, không thấy đâu, chỉ thấy đây kia những phần xương thịt của những người bị nạn bị bắn tung lên nằm la liệt phơi bày nhân quyền kiểu Mỹ phải đến sớm hơn 1km. Lòng căm thù trong tôi dâng lên tột đỉnh. Trong hoàn cảnh này cũng phải tỏ ra là thép, chịu va đập, chịu đàn hồi, chịu nung nóng v.v… để làm tròn nhiệm vụ của người cán bộ kỹ thuật khi Tổ Quốc cần. Những ngày ấy qua đi, lãnh đạo cấp cho tôi một giấy khen, mới biết là mình dũng cảm, lòng dũng cảm cần có ở bất cứ người công dân yêu nước nào.

Tháng 2 năm 1978 tôi được điều về Viện nghiên cứu máy, thay ông bạn được đề bạt thử trưởng tiếp tục nghiên cứu về phương pháp gia công điện hóa. Phần khi ở viện VUMA tôi nghiên cứu về vật lý công nghệ, đoán trước là về lâu về dài sẽ được áp dụng, đi trước, khi cần tôi đáp ứng ngay. Sau khi chiến tranh cái gì cũng thiếu, mua vật liệu thí nghiệm và vật tư cho mô hình thí nghiệm rất khó, phải chạy từ cửa này sang cửa kia, lùng sục như tìm quặng vàng. Anh là chủ nhiệm, cán bộ đầu ngành anh phải quán xuyến  mọi việc. Không chỉ huy bằng chỉ tay năm ngón. Đã làm thí nghiệm liên quan đến điện, ban ngày điện áp không ổn định, không đủ thế. Ban đêm người ta ngủ, anh đi làm ca ba. Lên xe Buýt mang theo chiếc chiếu để khi mệt ngã lưng, mấy cô sinh viên sư phạm nhìn tôi đầy ác cảm, thầm nghĩ tôi mang chiếu đi làm bậy. Tôi đi qua đồng không mông quạnh phải cầm chiếc roi dài vừa đi vừa quất để xua rắn, vừa phải nhìn đường để khỏi rơi xuống ruộng và phải nhớ mang theo một bộ quần áo để dự trữ đề phòng hệ đường ống dẫn dung dịch dưới áp suất cao làm bật chỗ nối, nước muối bắn lên người thì trời rét cũng phải cố gia công lại, thay quần áo, rửa qua loa làm lại thí nghiệm. Qua hơn một năm mô hình thí nghiệm đã hình thành, những khuôn mẫu gia công thử đã lên hình hài khúc chiết, lỗ sâu 6000mm, ᵩ 100 cũng được gia công xong. Nhà máy Z 183 Yên Bái thuộc quân đội đã mời tôi lên hướng dẫn làm thí nghiệm. Nhiều khi không gửi con được cho ai tôi phải mang cậu con trai lên vùng rừng núi. Vợ đi nước ngoài kiếm sống, tôi phải chịu cảnh gà trống nuôi con vừa phải làm việc nghiêm túc.

Nếu ở nhà máy cơ khi Trần Hưng Đạo tôi tìm mọi cách bảo vệ sinh mạng chính trị của một con người, thì ở đây tại viện tôi đã xông vào cứu nhân viên trạm điện bị bao thương binh cầm dao gậy gộc đánh chém. Nếu anh theo chủ nghĩa “’Mackeno – mặc kệ nó” thì tòa án lương tâm sẽ phán anh vào dạng người kiểu gì? Tuy về pháp luật anh không phạm gì? Ngay những hạt phù sa của dòng sông quê hương mang lại sự sống cho thế hệ này đến thế hệ khác anh cũng phải hỏi: sao ngày xưa chúng phì nhiêu, bây giờ như cát của hoang mạc. Nếu anh quá bang quan, vô tư có nghĩa là anh đã bỏ những lá phiếu tồi  mà đến lúc nào đó nó bị lợi dụng để chống lại anh và đồng  bào anh.

Ai cũng vậy, có cái chung và cái riêng, việc  nước  và việc nhà. Chiến tranh, hậu quả và quy luật của nó không những tác động lên đất nước, toàn thể xã hội mà đến từng gia đình. Kinh tế nhà tụt đến điểm võng cực tiểu, anh ngồi trên cổ xe ấy,anh phải cùng lao xuống đấy. Nhưng quan trọng là thái độ của anh trước vấn đề này. Anh phải nghĩ từ ngày đầu khi anh bước vào ngôi nhà chung thanh niên xung phong, anh được rèn luyện và được giáo dục, nuổi dưỡng như thế nào, anh phải nghĩ những người đã ngã xuống vì Tổ Quốc, quyền của họ chỉ để lại vợ góa, con cốc và mẹ già…thì anh sẽ không nỡ trách ngược, trách một chiều Đảng và Chính Phủ. Nếu anh còn biết ơn thì bây giờ chìa phần vai gánh vác, tự tìm việc nuôi sống gia đình anh, nhưng không phải bất cứ giá nào. Năm 1985 tôi được điều vào Phân viện nghiên cứu máy tại TP Hồ Chí Minh, thì năm 1988 phân viện giải thể, muốn ở lại thì tự chạy việc, không thì ra Bắc. Của vợ kiếm được từ lao động ở Nga đem về bán đã vợi, chúng tôi rơi vào thất nghiệp, việc xương xẩu cũng phải làm, lương ít cũng phải nhận. Có lần tôi về một cơ quan, giám đốc bảo tôi thiết kế một máy liên hợp vào thuốc nước, hàm, cắt… tôi thì thiết kế, giám đốc thuê thầu “ chế tạo”, nhưng họ lợi dụng bản thiết kế để xuất tiền chia nhau, phần dư sau thì mua máy cũ chữa qua quýt thế vào. Bảo tôi ký: “Máy được chế tạo theo thiết kế”. Tôi nhất định không ký, dù có chìa cho tôi ít tiền. Đơn giản là vì nhân dân nuôi  mình, không làm bất cứ việc gì để phản dân. Kết quả là tôi bị treo việc, ngồi chờ giám đốc mới lên giải quyết việc cho tôi. Trời có mắt, tôi lại vào bàn thiết kế, thuê chế tạo và lại bán được vài chúc máy nuôi gia đình và tặng cho quê hương một chiếc. Tháng 11 năm 1995, tôi về hưu, đi làm thuê cho công ty Ajinomoto của Nhật, qua nhiều đợ bị xén bớt, ăn chặn, tôi còn ít tiền đủ mua đất để làm nhà. Bây giờ tôi mở trường dân lập dạy học sinh để có niềm vui lao động, nhưng có một Ngô Độc Đức để quân làm lộ đề thi học kỳ II, vu cáo cho trường chúng tôi, vì danh dự bằng mọi cách chúng tôi vạch trần. Báo Tuổi Trẻ làm sáng tỏ vấn đề. ….?an ủi tôi: “ năm hạn, anh đành chịu vậy. cơ quan này đáng lẽ phải dùng luật pháp nhưng lại dùng bài bói tử vi bênh cho người có quyền. Cái chính là giáo dục Việt Nam còn nhiều bất cập, mong Thánh Gióng nhổ thêm 1 gốc tre nữa quất con ngựa giáo dục tiến lên đi đúng chiến lược mà nhân dân đang chờ.

Khi cuộc đời ngả bóng theo trời chiều, người ta thường ngẫm lại những gì đã qua, tôi không hối hận, hoặc không hổ thẹn với mình, đấu tranh vì cái thiện tôi không hề biết mệt mỏi, chỉ tiếc một điều mà những ông già thời tôi mới ra trường, có những người kinh nghiệm vụn vặt không đủ tầm lại không tin bọn trẻ, xem thường ý kiến họ, vì vậy mà lãng phí lớn –  ngày nay nếu giở lại những ý kiến mà tôi đề nghị bảo lưu thì ta thấy được những tổn thất biết chừng nào do những người lãnh đạo kém, lại nghèo thông tin, kiểu sống lâu lên lão làng. Mong sao các bạn trẻ trong công việc hãy thể hiện bản lĩnh có tri thức và tư duy trong tranh luận – nếu được chỉ định làm thủ trưởng, trước tiên chớ vội nghĩ đến chức mà tự hỏi mình có đủ trình độ chuyên môn, đạo đức và ý thức trách nhiệm để đảm trách không, vì đấy là lòng yêu nước chân chính.

Đến đây thì tôi có thể hát bài: “ không có việc gì khó, chí sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” và tự hào những gì làm được khi viết quyết tâm thư cho Bác. Lao động chân tay, lao động trí óc; đối mặt với những ngang trái cuộc đời…đều không khó. Tôi thấy thời gian ở thanh niên xung phong quí giá đối với tôi. Qua đó rồi sẽ không sợ bất cứ dạng lao động nào. Tôi tự hào là mẩu thép của lò luyện thanh niên xung phong.

Hơn bốn mươi năm trôi qua, giờ đây chúng tôi cố liên lạc tìm nhau thăm viếng, ôn lại những kỷ niệm ngày xưa – một thời hào hùng, gặp lại nhau vô cùng hạnh phúc, tay bắt mặt mừng, hỏi những gì xảy ra với từng người, và đã làm gì. Trước mặt tôi anh hùng lao động Trần Văn Trung, người trong chiến tranh đã có nhiều sáng kiến góp phần vào việc chống Mỹ cứu nước – đất hoạt động của anh là khu gang thép Thái Nguyên, ngồi bên anh Nguyễn Văn Tòng, trung tá về hưu, người đã ở trong lực lượng an ninh đã có công trong việc bảo vệ chính trị, an ninh trật tự, phá tan âm mưu kẻ thù phá hoại ta trong kháng chiến, ông bạn Mai Đức Anh, cán bộ giảng dạy nguyên hiệu phó trường Đảng Quảng Ngãi, người đã góp công đào tạo nhiều lớp cán bộ Đảng, Giáo sư Mạc Đường, nguyên VIện trưởng Viện khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh – người đã từng hướng dẫn nghiên cứu những công trình khoa học, Trần Văn Dũng đã từng lia máy quay phim đây đó để phản ánh các sự kiện anh hùng của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những thước phim về công cuộc xây dựng hòa bình, anh Hồ Kiều lăn lộn, năng động trong công tác bảo vệ Trung Ương cục miền Nam, những kỹ sư như Phạm Văn Trân, Đỗ Tu Dưỡng, Trang Ngọc Các, Cao Phúng… danh sách và công trạng còn thật dài của các thành viên xung phong C 390 – đội cũ, rất tiếc ở đây còn vắng nhiều, nhiều đồng chí đã hy sinh trong đó có anh Lê Đình Viện C phó… Chúng tôi người có học vị, có chức vụ, có sao gạch, có địa vị xã hội và cũng có những người không có gì, nhưng họ vẫn giữ được những nét đặc trưng chung, truyền thống anh hùng nhân phẩm làm người, mang gen nhà tông – thanh niên xung phong. Chúng tôi rất tự hào vì chúng tôi đã là đoàn viên Thanh niên xung phong, mong sao tổ chức này mãi mãi tồn tại vì nó gánh được nhiệm vụ lịch sử của mọi thời trong những cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại và trong xây dựng hòa bình. Thế hệ Thanh niên xung phong ngày nay đang và sẽ nhận nhiều công việc trọng đại hơn, vinh quang hơn… Nếu thế hệ trước đây đã mở đường Trường Sơn – đường mòn Hồ Chí Minh đi cứu nước, thì thế hệ ngày nay đang xây dựng đường Hồ Chí Minh hiện đại xương sống của nước Việt Nam, con đường chiến lược về nhiều mặt, con đường giữ nước, con đường phát triển. Họ phải tài giỏi hơn, thông minh hơn “ mong sao con hơn cha là nhà có phúc”. Những người đi trước quỳ gối mặc niệm những bậc tiền bối đầy lòng biết ơn, giơ tay ôm vào lòng mình những con cháu Thanh niên xung phong và có quyền hy vọng ở họ là những thỏi thép tốt cho ngành chế tạo máy, cho các công trình xây dựng…Là những cây thông, tùng, bách vẫn xanh rờn trong giá  buốt và trơ trước phong ba bảo táp, là những con người có tình cảm tốt đầy nhân  bản, tri thức giàu, uyên thâm, có tấm lòng vàng, có đạo làm người, hành vi đúng đắn rõ rang, tình cảm trong sáng – nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức, hy vọng họ tự khẳng định mình, nếu không sẽ bị loại một cách không thương tiếc ra khỏi quỹ đạo mà theo đó nền công nghệ tiến như vũ bão, đẩy bất cứ ai không theo kịp lùi về quá khứ, mà quá khứ thì chả còn nghề nghiệp gì ngoài việc anh không nhận, mà xin nhiều điều ước thì tâm linh  của những người quá cố lệnh cho anh: quay về phía trước, phi nước đại cùng nhau phục vụ nhà điều hành đất nước, biển Tổ Quốc Việt Nam thành chốn thiên đường!

Nhân đây tôi muốn hướng về người quá cố –  Mẹ tôi – bà mẹ họ Tôn, người cộng sản từ 1930-1931, người đồng chí của bố tôi với lòng biết ơn sâu nặng và sự kính yêu vô vàn. Để biết làm người có tri thức và có nhân bản, tôi đã chịu ơn Mẹ rất nhiều, không thể đo ơn ấy bằng chiều cao vời vợi của thinh không xa xăm. Người Mẹ mà tôi chịu ảnh hưởng sâu sắc về lòng nhân đạo và lý tưởng cộng sản. Dưới chân tôi Mẹ đã đặt bệ xuất phát diệu kỳ. Khi bố tôi mất, Mẹ đang ở tuổi 28. Hy sinh mọi hạnh phúc riêng tư để nuôi 3 con và mẹ chồng, đinh ninh son sắt: “chỉ con cái và mẹ già”. Mẹ nói: “Mẹ sẽ không cầu để lại gì cho các con ngoài chữ nghĩa, vì tất cả giàu sang phú quý đều có thể bán sạch, còn tri thức bán cho đến lúc chết, nuôi mình cho đến chết”. Trong kháng chiến chống Pháp cả Liên khu 5 chỉ có một trường cấp 3 Lê Khiết, mỗi khối lớp chỉ được vài lớp thế mà mẹ tôi đã đưa 2 con mình vào đấy.

Tôi cảm ơn chế độ nhân dân và Đảng đã nuổi dạy tôi, cảm ơn những chiến sĩ đã ngã xuống vì Tổ Quốc Việt Nam. Trong tâm hồn tôi lấp lánh những vì sao chủ nghĩa cộng sản –  Chủ nghĩa mà tôi tôn thờ.

TP.Hồ Chí Minh, ngày 2/8/2000

N.Q.K

 

23/04/2012 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Hương Lan

Vườn nhà ai xanh trải mênh mang

Yên ả chiều xuân nắng trải vàng

Hương lan thơm ngát ôi xao xuyến

Xao động lòng ta đến ngỡ ngàng.

                                       Xuân 2012

26/02/2012 Posted by | Khác | Để lại bình luận

Tuyển tập “LỜI THỜI GIAN” – Chương I

Tuyển tập “LỜI THỜI GIAN” của nhà thơ Tôn Thanh Quang (Nguyễn Quốc Khởi) gồm các  sáng tác thơ ca của chính tác giả và giới thiệu,tổng hợp các sáng tác của các tác giả  khác.

Tuyển tập gồm 4 chương.


Chương I — TÌNH SÔNG NÚI


Xe duyên

Trăng muôn nghìn tuổi còn mơ mộng,

Mãi nhìn Thạch Bích với Trà Giang.

Trăng chờ tôi gả sông cho núi,

Đứng lặng mà ghen đến ngỡ ngàng.

Sáng lên sóng lượn hôn chân núi,

Chiều nghiêng Đá Vách ấp bờ sông.

Lòng sông đá ngủ nghìn năm hát,

Cổ thụ non cao múa rộn ràng

Ước nguyện

Ước gì là cánh chim trời,

Chao quanh Đá Vách hát lời thời gian.

Đêm về xin đậu Ngân Giang,

Sáng thôn An Mỹ chiều làng Châu Sa

Liệng xem đất Quảng quê nhà,

Sa Huỳnh cổ đại,Trà Bồng,ĐạiAn.*

Biển bạc cho đến rừng vàng,

Về nôi lịch sử ,về ngàn mai sau.

Bay đi mua những trầu cau,

Vui đưa thiếp cưới đêm hoa về mừng.

Bay đi tìm một mùi hương,

Hương sen tôi chọn cho vườn tân hôn.

Hương tinh khiết của nội đồng,

Ngạt ngào lan toả bờ sông chân đồi,

Lâng lâng nâng cánh chim trời,

Líu lo mời gọi biển khơi về nguồn.

Ước gì là cô lái thuyền,

Được yêu cuối biển nên duyên đầu nguồn.

Chèo từ Cổ Luỹ Cô Thôn,

Mỹ Khê* ghé lại chở hồn biển khơi.

Em bơi đi khắp nơi nơi,

Muôn ngàn năm tuổi một trời thân quen.

Ghé Vạn Tượng mua đường phèn,

Mạch nha Mộ Đức,kẹo gương Thu Xà

Thuyền về Sung Tích, Châu Sa,

Mua rau và ớt, mua cà với tương.

Xuân Phổ ,Phước Lộc, Xóm Buồng,

Mua tơ dệt lụa,mua đường lên non.

Còn trời còn núi còn sông,

Còn thuyền xuôi ngược mình còn với ta.

Muối mặn cho nước non xa,

Cuốc cày An Phú đưa lên Sơn Hà,

Quay về Đồng Ké Ba Gia,

Chè tươi gỗ tốt xuôi đà Tam Thương*.

Trầu cau chín nhớ mười thương,

Chở về tô thắm môi hồng ai đây?

Ân tình chất khẳm thuyền đầy,

Quế rừng, mật ngọt,cần say men tình,

Chở lời son sắt đinh ninh,

Như đinh đóng cột chuyện mình với anh,

Hương ngàn gửi ướp tóc xanh ,

Cho xuân quyện tóc,cho anh kết mình.

Thiết tha non nước hòa bình,

Cho cây đơm quả cho tình đơm hoa.

Tiếng lòng năm tháng ngân nga,

Thoi đưa xuôi ngược thuyền là mối mai.

Nếu là nước ra đại dương,

Tôi gom mây lại mưa hương ướp rừng.

Mưa cho non nước thơm lừng,

Pìn Nin xanh lại, khỉ mừng lon ton.

Nai về xin lại núi Tròn,

Rừng xưa, thú cũ,lối mòn say xanh.

Đất trời tươi mát trong lành,

Là nơi bến đỗ yến oanh sum vầy.

Muôn giòng suối, những rừng cây,

Nước mua cơn khát,rừng xin xây nhà.

Sương mai nắng sớm chan hòa,

Cây non lộc mới đơm hoa dâng quà

Mây mưa trăn trở sông Trà,

Sinh con bống nghệ mặn mà bát cơm.

Thài bai,tiêu ớt, don thơm,*

Mời con chim mía về đơm mâm vàng,

Nồng nàn mê hoặc thi nhân,

Tứ cay, câu đắng,thơ tràn lệ rơi!

Mưa hương là nước của trời,

Mưa từ khóe mắt của đời đắng cay.

Nước non đâu quản tháng ngày,

Nuôi người, nuôi đất,ươm cây say lòng.

Nhắn ai lười cấy biến trồng,

Tát sông phá núi,ăn không chây lười.

Trời phạt dở khóc dở cười,

Thiên lôi đánh xuống,voi khùng quẳng lên.

Hãy cho mây trắng bồng bềnh.

Non xanh nước biếc tạo nên thiên đường.

Nếu là nước ra đại dương,

Nguyện làm sóng biếc ôm hôn quê nhà.

-1Sa Huỳnh là vùng đất rất xưa thuộc văn hóa đồ sắt Chăm Pa có từ 200 năm trước công nguyên.

-Đại An thuộc xã Hành Thuận,Nghĩa Hành-quê các cụ Võ Duy Ninh,Võ Duy Dương- những người chống Pháp đầu tiên ở Nam Bộ,nếu nghiên cứu về hậu duệ các cụ ta có được nhiều điều hứng thú.

Mỹ Khê  quê cụ Trương  Định và cụ Trương Đăng Quế ,miền thuỳ dương của đất Quảng Ngãi

-2.Xuân Phổ,Phước Lộc,Xóm Buồng-là những nơi trồng mía,trổng dâu nuôi tằm.3-.An Phú,Tịnh Minh,Sơn Tịnh nơi có xóm lò rèn sản xuất nông cụ quê hướng cụ Pham Kiệt và cụ Phạm Thị Trinh

-4.Bến Tam Thương nơi buôn bán tấp nập ở hữu ngạn sông Trà,.phía dưới cầu Trà Khúc-đối diện Thiên An. -5.Pìn Nin,núi Tròn ngày xưa có nhiều khỉ ,nai.

-6.Thài bai,cá bống,don,chim mía là những món đặc sản của Quảng Ngãi –sản phẩm của sông  Trà

06/04/2011 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Tuyển tập “LỜI THỜI GIAN” – Chương II

Chương II  –    THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI XỨ QUẢNG

Địa linh

Quê hương lưng tựa Trường Sơn,

Hiên ngang dáng đứng chon von  canh trời.

Đèo nghiêng đỗ nước ra khơi,

Tung  năm giải lụa xanh phơi lòng mình.

Trắng trong rạng rỡ hữu tình,

Sông trôi duyên dáng thanh bình thơm hương.

Núi nguồn chắt lọc mưa sương,

Mặt sông trong vắt- gương soi làm người

Trời xanh ,cát mịn, biển khơi,

Đại dương xanh thẩm chân trời bao la,

Tầm nhìn rộng mở xa xa,

Gío ru sóng biển ngân nga nhịp đời.

Nước non sơn thủy rạng ngời,

Tính người chân chất,lòng người mênh mông.

Quê tôi bão tố nghiêng đồng,

Gió lửa tháng bảy mưa đong tháng mười,

Nhưng là đắc địa tuyệt vời,

Quân thù nhòm ngó ,Tây Ngô rập rình.

Quê tôi có Ấn uy linh

Trời ban để định dáng hình thiêng liêng.

Trời cho chiếc Bút,cái Nghiên,

Cho son đỏ thắm tô nên sử hồng.

Miền đất giỏi võ văn thông,

Kẻ nào chạm đến sẽ không đường về.

Trời cho cái khó cái khôn,

Khó thì khắc phục,cái khôn ôm vào.

Đất trông Bắc Đẩu Nam Tào,

Chọn những sao sáng mà trao cái hồn.

Trời già lúc dở lúc khôn,

Gồng mình chế ngự siêng ôn luyện rèn.

Một vùng đất hẹp núi chen,

Giữ lấy cuộc sống nhiều phen nhọc nhằn.

Dựng nước dốc sức tài năng,

Giữ nước máu nóng sức căng tim lành.

Quê cha đất mẹ lừng danh,

Trung kiên bất khuất đã thành tiếng vang,

Cương trực, co cượng,to gan,

Mẹ ru cha dạy ý vàng tuổi thơ.

Mẹ làm như kiếp tằm tơ.

Cần cù ong thợ ,nước cờ của cha.

Lòng mẹ như nước sông Trà,

Trong xanh thanh khiết trăng ngà ánh sao.

Mẹ nhìn mắt sắc như dao*1,

Giặc sợ hết vía nháo nhào chuồn ra.

Chìa tay thân thiết mặn mà,

Mẹ vui ôm chặt bạn bè thế gian.

Ý cha là ý đại ngàn,

Mạnh hơn gió núi ngân vang tiếng cồng.

Từ trong âm hưởng tiếng cồng,

Quê hương ru cả đảo cồn non xa.

Lý Sơn dõi ngóng Hoàng Sa,

Hồn cha chôn sóng khơi xa gọi về.

Đất thiêng tấc đất lời thề,

Đảo neo đất mẹ không hề rời xa.

Đất liền,biển đảo,trời xanh ngát,

H’rê,Xơ Đăng,Cor ,Việt *2 thiết tha

Yêu quí đất Quảng quê nhà,

Chung lưng đấu cật mặn mà tình sâu.

* 1-Một nhà báo Đức sau ngày giải phóng đất nước khi nhìn mắt phụ nữ Quảng Ngãi có nhận xét: mắt người

phụ nữ vùng này sắc lẹm như dao thật đáng gờm!

*2-Các dân tộc ít người ở Quảng Ngãi.

Ba Tơ-Đốm lửa rực hồng.

Ba Tơ rừng núi âm u,

Là nơi đày ải những tù lừng danh.

“Cây” không chết lại lên xanh,

Lọc trong đá sỏi rễ giành nhựa trong,

Cho hoa đua nở nuôi ong,

Ong thợ ,ong chúa cây mong cho đời.

Chồi non lộc mới sáng ngời,

Nách cây e ấp không phơi sắc màu,

Âm thầm bức phá lên mau,

Chờ thời khoe lá chia nhau nắng vàng.

Chim đang ấp nở ra ràng,

Tiếng kêu trong vắt âm vang núi ngàn,

Cồng chiêng k’lông pút rộn ràng,

Mừng trời trong vắt mây ngàn trôi xa.

Tình sâu kinh thượng nở hoa,

Những tù an trí hát ca tưng bừng.

Cướp súng đạn thắt ngang lưng,

Giành dân lấy đất vui mừng tự do,

Tuổi mười lăm*vững lái đò,

Vượt cuồng lũ dữ  thắng to vang lừng.

Gian lao không chút ngập ngừng,

Tay không thắng giặc đã từng có chưa?

Nắng hạn gom lấy mây mưa,

Làm nên giông tố tống đưa rác thù.

Mười lăm năm những người tù,

Đã thành danh tướng giặc thù khiếp kinh.

Ba Tơ xuất tướng khởi binh,

Đẻ ra quân đội quang vinh khắp vùng,

Đóm lửa nhỏ gió thổi bùng,

Rác khô củi mục cháy nung giặc thù.

Ba Tơ đóm lửa rực hồng,

Lửa thiêng truyền giữ ấm nồng nước non.

Lửa còn hạnh phúc vẫn còn:

Ba Tơ- vú sữa mớm tròn mồm con trẻ

nút dòng tươi

-mật ngọt lịm làm lành thực quản người gìa

bao năm nuốt củ rừng khô cổ

-là phù sa vạn đại

làm phì nhiêu ruộng đồng,

-thuốc trừ sâu bọ ngo ngoe.

Ba Tơ bùng nổ Xuân đất Quảng,

trải mùa thu xanh thắm quê nhà,

là vườn  hoa dâng tặng những liệt sĩ,

mồ yên,vui non nước thanh bình.

Ba Tơ

hắt tanh tưởi vào mặt bọn đao phủ,

đuổi xâm lăng cút xéo biệt trời xa,

làm đẹp rừng,đẹp biển,

thổi sinh khí ra đại dương,

làm bồng bềnh thêm mặt biển xanh trong

Ba Tơ thơm hương ,…bay xa

Trà Bồng khởi nghĩa và dân tộc Cor

Chèo bẻo thần tượng dân tộc Cor.

Bình minh thường hót rõ lời to:

Hiên ngang, bất khuất luôn đoàn kết,

Chẳng sợ uy quyền,thích tự do.

Từ lúc giặc vào phô mặt sắt,

Đến khi địch cút mặt thành mo.

Bao thu kết nối tình Kinh Thượng,

Cùng diệt thù chung,giữ ấm no.

Đông mày tây tớ*, nước xu đỏ,

Du kích Trà Bồng súng chắc tay.

Liên tục diệt thù trên đất nước,

Không buông vũ khí khi còn Tây!

Cà Đam chót vót hồn cao ngất,

Chèo bẻo vang trời tiếng hót hay.

Bầy quạ đã từng lông cánh trụi,

Khi vào đất thép để tranh gây.

Pháp Nhật Mỹ Hàn từng thấm trận.

Đòn đau búa bổ biết dân Cor

Vân Phong từng diễn Diên Hồng Hội,   (7/7/1958)

Đơn vị quân hành Mỹ Diệm lo!             (3/3/1959)

Khởi nghĩa đầu tiên cao đỉnh điểm,       (28/8/1959)

Dìm sâu máy chém kéo vòng vo.

Trời riêng một cõi xa chân giặc,

Mỹ, Diệm ngán đòn gậy ăn no!

(Vân Phong tiếng dân tộc Cor là Cà Đam), Đông có mày Tây có tao ý nói đồng bằng có người Knh,rừng núi có người Thượng cùng bảo vệ đất nước,Nước xu đỏ phong trào của các dân tộc miền núi  liên kết đánh Tây

Ba Gia, Vạn Tường

Giặc xâm lược bước trước sau,

On  ào chen chúc đua nhau nhảy vào.

Xe tăng xích sắt ào ào,

Máy bay ,tàu thuỷ ,chó ngao đầy đường.

Bao năm Pháp rải đau thương,

Bị đánh qùi gối phải nhường Mỹ tham.

Nguỵ tặc nhai bã ăn phàm,

Tay cầm vũ khí hàm nhai liên hồi.

Xài Đô,khạc đạn lại tồi,

“chiến tranh đặc biệt”bị bồi đòn đau.

Ba Gia*Núi Khỉ ,Gò Cao

Đã vùi chiến lược xuống hào chôn sâu.

Chủ Mỹ lại phải ngậm sầu,

Tung quân ào ạt đổi màu chiến tranh.

Chiến lược nhảy múa lanh chanh,

Loã lồ man rợ “của anh, của nàng”

Bọn cướp trang bị tận răng,

Vạn Tường*ập đến tưởng rằng dễ xơi!

Ê chề thất bại nhớ đời,

“Chiến tranh cục bộ”bị đòn đầu đau!

-Đến Vạn Từơng Mỹ huy động 8000 quân,thêm 1000 quân  nguỵ,ta diệt 919 tên Mỹ

bắn cháy 22 xe tăng,13 máy bay.

Thắng cảnh thiên nhiên:

“Nước non đâu cũng là nhà,”

Ở đâu cũng đẹp,thiết tha quê mình!

Hồn thơ cụ Nguyễn Cư Trinh*6

Cụ Cao Bá Quát đưa tình lên cao

Hai trăm năm sau Văn Cao,                       .

Ghé qua Quảng Ngãi bước vào Thiên thai*

Ngàn xưa cho đến tương lai,

Biển bờ vàng óng gót hài Thùy Dương:

1-Thạch Bích Tà Dương

Núi nghiêng,sợi nắng trút lao xao,

Chiều trải ngàn xanh én vẫy chào.

Thạch Bích tà dương* buông áo tím ,

Trà Giang tròn mắt thả trăng sao,

Màn sương chưa sẵn gây huyền ảo,

Nắng nhạt còn say hưởng ngọt ngào.

Ai biết bao mùa Thu đứng đợi,

Để nhìn Thạch Bích nắng nghiêng chao!

Hoàng hôn rực rỡ nắng nghiêng chiều,

Sơn thuỷ đua khoe  dáng mỹ miều .

Triền núi còn vương vầng nắng nhạt,

Bờ sông vẫn ấp chút nồng yêu.

Ngàn sao xa lắc đang chờ sẵn,

Một mảnh trăng gần lấp ló trêu.

Thạch Bích say dần trao gối ngọc,

Trà Giang buông nhẹ dáng  kiều yêu!

2-Thiên An Niêm Hà

Lung linh màu sắc đóa thiên nhiên,

Đồi núi sương treo dáng ảo huyền,

Đông trắng,xuân xanh son vẫn thắm.

Thu vàng, hạ đỏ dáng còn nguyên,

Đến ngày cưới gả ta về lại,

Đúng lễ thành hôn anh đón tiên.

Thiên An Niêm Hà* trời chấn dấu,

Tình yêu năm tháng vẫn thơm duyên.

Duyên xuân trải lợp miền xưa cũ,

Tô thắm ngàn năm đất Cẩm Thành.

Giếng Phật trong veo nguồn sâu ngọt,

Chuông Thần vang vọng núi xa xanh.

Tổ Đình vươn hái thu xanh ngát,

Mây nõn, hồn quê biếu cụ Huỳnh.*

Đỉnh An vươn cao trời xứ  Quảng

Hồn thiêng sông núi sắc thanh thanh!

3-Thiên Bút Phê Vân

Ai về Thiên Bút Phê Vân*

Nhìn mây xem nét bút thần ngàn xưa,

Nét xưa còn gửi mây mưa,

Nghiên son đỏ thắm bút phê hiền tài.

Ai đi ai có nhớ ai?

Quế thơm* Thiên Bút mời anh trở về.

Khi về anh nhớ đêm tài,

Tô thắm đất Quảng,làm hài lòng em!

*xưa kia ở Thiên Bút có cây quế rất thơm

4-Long Đầu Hí Thuỷ

LongĐầu Hí Thủy*cười vang,

Vờn mây, giỡn nước,tung vàng mua trăng.

Đã từng để mắt cô Hằng,

Đêm mơ sao Thủy,ngày săn bóng hồng.

Đầu cầu Trà Khúc đứng trông,

Quẩy đuôi xoáy nước hòng chăng bẫy tình.

Ngàn khôn sóng lúa xanh xinh,

Đưa tình quyến rũ nước sông lên đồng.

Lòng sông đá ngủ choèn nông,

Giật mình chợt hỏi đầu rồng ở đâu?

Đầu rồng bị chặt đã lâu,

Hãy còn rỉ máu đầu cầu ra sông.

Cao Biên thuở ấy cậy đông,

Chém rồng, tiêu thổ,phá đồng của ta.

Ngày nay…cảnh giác lũ ác còn đông!

5-La Hà Thạch Trận

Trận đồ tạo dựng ngày xưa,

La Hà Thạch Trận*hẳn thừa nghìn năm,

Dấu xưa để lại bao lăm,

Những ông lính đá biệt tăm nơi nào?

Năm xưa trấn giữ chiến hào,

Tiếng hô xung trận Thiên tào còn ghi.

6-Hà Nhai Vãn Độ

Đò ngang vắng khách về chiều,

Hà Nhai Vãn Độ*ai yêu thì về!

Ngày nay sông cạn đò chê,

Còn đâu tiếng hát sông quê xanh dờn

Lội bộ chân biết khơn hơn,

Nông sâu dò dẫm đá trơn không nhầm,

Neo bờ Xuân Phổ nuôi tằm,

Đêm về tơ lụa ấm lòng Hà Nhai.

7-Liên Trì Dục Nguyệt

Liên Trì Dục Nguyệt*đêm rằm,

Hương sen quyến rũ em nằm tắm trăng.

Nõn nà da mát trăng ngân,

Đê mê Bắc Đẩu,bâng khuâng Nam Tào!

Nét cong quyến rũ trăng sao,

“Xuân sơn,thu thủy” bước vào Thiên thai.

Núi Rồng ước những một mai,

Chị Hằng xuống tắm được ngồi bên ao!

8-An Hải Sa Bàn

Ai về An Hải Sa Bàn*,

Men theo dải cát ngút ngàn yêu thương,

Mâm vàng cát ngậm nắng sương,

Ban mai gùi gio thơm hương say nồng.

Chiều rơi làm nhạt mây hồng,

Trăng trôi lưu luyến bềnh bồng gọi thơ,

Sóng triều chung thuỷ bến mơ,

Hôn mâm cát óng ôm bờ thiên thu.

Ngàn năm An Hải biển ru,

Trời xanh tô thắm bến bờ Thuỳ dương.

9-Thạch Ky Điếu Tẩu

Xa xưa từ  thuở hồng hoang,

Ngư ông trên tảng đá bàn ngồi câu

Mộng vàng ấp ủ tim sâu,

Câu nàng tiên cá bắc cầu lên trăng.

Tậu thuyền mua lưới bủa giăng,

Chân trần gánh đất để ngăn sóng thần.

Bổng dưng ông ngã trượt chân,

Đôi hòn đất nặng bất thần mồ côi.

Sa Kỳ đứng xếp chỗ ngồi,

Kia hòn An Hải, này đồiVĩnh An*

Sóng ngầm triều lửng chắn ngang,

Sầu vây hoá đá thanh xuân đời người!

Biển khơi gánh gió của trời,

Thổi vào hang đá lời ru trong ngần,

Am thanh dịu ngọt lâng lâng,

Ru ông thanh thản yên nơi ông nằm.

Ai về Quảng Ngãi ghé thăm,

Thạch Ky Điếu Tẩu*tháng năm ru hoài !/đứng nằm tương tư/

Truyền thuyết nêu rằng: An Hải và Vĩnh An là hai hòn đất ngư ông bị trượt chân đánh rơi

10-Cổ Luỹ Cô Thôn

Ngàn năm canh giữ biển trời,

Dừa xanh giăng lũy bao đời đứng trông.

Những ngày trời sáng trăng trong,

Biển khơi xanh thẩm , nắng hồng thủy tinh.

Trà Khúc,Sông Vệ nặng tình,

Bao quanh ru vỗ bình minh chiều hồng.

Say tình Cổ Lũy Cô Thôn,*

Rạng đông biển hỏi,hoàng hôn núi đòi.

Mà sao cô tịch lẻ loi,

Chùa Hang gõ mõ hồn đòi Chămpa

11-Vu Sơn Lộc Trường

Bãi xanh mơn mởn đồi non,

Nai đàn gặm cỏ Vu Sơn Lộc Trường*

Thảm trời cuốn hút ngàn phương,

Nai thi ngắm khách mắt sương xoe tròn.

Bao chàng say đắm mỏi mòn,

Chôn chân chết đứng quên con đường về.

12-Vân Phong Túc Vũ

Vân Phong TúcVũ*mưa đêm,

Cà Đăm mát dịu em ngồi tắm suông.

Giọt dài, giọt ngắn,giọt khôn,

Giọt dài chảy vội,giọt khôn biết dừng,

Giọt ngắn tí tách trên lưng,

Lung linh huyền ảo kéo dài đêm thâu.

Có em rừng núi ngủ sâu,

Sáng ra bảy sắc cầu vồng hiện tiên.

Tiên về những sáng tinh mơ,

Vờn mây trắng xóa lơ thơ đỉnh đồi.

Hoàng hôn trong vắt bầu trời,

Vân Phong bảng lảng chơi vơi mây hồng.

Dáng tiên hương quế thơm nồng,

Ngàn xanh phô sắc non bồng thiên thai.

13-Sa Huỳnh đ

Sa Huỳnh*muối mặn biển xanh,

Đại dương thắm đậm đua tranh màu trời.

Trường Sơn xanh ngát cao vời,

Thả xuôi cung bậc dạo chơi cát vàng.

Chu Me ghềnh đá ngỡ ngàng,

Xem nàng tiên cá hân hoan đón chào.

Ngộ Không làm xiếc lộn nhào,

Như cùng theo nhịp lao xao sóng triều.

Sa Huỳnh cô gái mỹ miều,

Chứa trong tâm khảm muôn điều xa xưa.

Trữ tình khi nắng lúc mưa,

Ru hồn sóng biển đong đưa võng trời.

Trừơng Sơn ôm lấy biển đời,

Đưa chân xuống nhuộm đất Hời thời gian.

Đưa vai gánh muối lên ngàn,

Vùi trong lồng ngực muôn vàn tình sâu.

14-Mỹ Khê

Bờ cát lưỡi liềm rộn yến oanh,

Du dương rặng liễu thướt tha cành.

Mỹ Khê gió biển ru hồn đất,

Cửa Đại mây trời mê sóng xanh,

An Hải tươi duyên bờ óng ả,

Sa Kỳ mỹ lệ bãi vàng hanh,

Cô Thôn Cổ Luỹ làng trinh nữ,

Như hẹn nhau về vẽ thuỷ tranh.

Mỹ Khê toả ngát những làn hương,

Thơm mãi ngàn năm đất mến thương.

Tình khúc nơi xa ai gửi lại,

Gợi niềm mong nhớ xưa chiều sương.

Từ đâu sóng vỗ nồng hương biển,

Mà bến nơi này mãi vấn vương,

Em hỡi về đây trong nắng ấm,

Hương thơm ru giấc bến thuỳ dương!

15-Vi Men

Thác cao tung lụa trắng ngần,

Vẫy mời khách đến dừng chân ngắm rừng!

Chim trời đua hót tưng bừng,

Cà Dong thiếu nữ ngập ngừng ngắm anh.

Vi Men *phô diễn ngàn xanh,

Suối trong thác trắng đón anh vẫy vùng

Anh đi nhớ dắt em cùng,

Để xem bảy sắc cầu vồng sớm sương.

Vi Men e ấp mến thương,

Ai mà đến đấy vấn vương tơ lòng.

Hương rừng quả ngọt thơm nồng,

Đê mê khách ngắm duyên hồng Sơn Tây!

16-Thác Trắng

Thác Trắng* cao vút tầng không,

Phơi phô trong trắng Minh Long với trời.

Giòng xanh đỗ xuống đôi hồ,

Long lanh mắt ngọc lô xô sóng tình.

Lắng nghe ngôn ngữ bình minh,

Chim công tố hộ gọi mình với ta.

Chim rừng thi thố hát ca,

Du dương tiếng nhạc ngân nga dặm dài.

Đàn nai ngơ ngác nghênh tai,

Như thu âm hưởng nghe hoài một mai.

Vượn khỉ biểu diễn trò hài,

Mua vui khách đến gải tai xin tình!

17-Thạch Nham

Đồi non xanh biếc nước trong veo,

Trùng điệp lô nhô núi lại đèo.

Hồ trải ngàn tây xa tít tắp

Sông ra khơi biển sóng triều reo.

Trà Giang đôi nửa vời cao thấp,

Thạch Bích một trời ghé mắt theo.

Nước mát lúa non vui sấm dậy,

Thạch Nham xao xuyến đêm trăng treo!

Non nước mây trời gió ngát hương,

Bâng khuâng em ngắm mãi, tình vương .

Tim say gửi lại lòng sông đá,

Mẹ hát ngân xa nhớ miệt vườn*

Sóng nước đua vờn xao động mãi,

Hoa rừng đắm đuối ngắm tà dương.

Thạch Nham ẩn giấu tâm tư  đất,

Em đã ngây tình , lá hứng sương!..

Quảng Ngãi ơi,Thạch Nham hỡi!

Em mang nhạc*1 về, tình gửi đáy sông.

Đê mê sông ngấm lời đá hát,

Đá tải giùm em nỗi nhớ mong.

Anh men bờ nước ôm đá ngủ,

Ấp  ủ con tim giữ ấm nồng.

Em về màu nước mang theo,

Tô xanh Vàm Cỏ*2 trăng treo về nhà.

*1-Bài nhạc Vàm Cỏ Đông của nhạc sĩ Trương Quang Lục

*2-Miệt vườn và Vàm Cỏ chỉ miền sông nước Cửu Long

Biết bao thắng cảnh thiên nhiên,

Thành thơ thần thoại,thành duyên đất trời.

Dấu xưa phế tích đôi nơi,

Thạch Nham,Dung Quất… ngời ngời hiện thêm.

Về nơi yêu dấu đi em!

Quàng khăn xanh ngát lên thềm núi sông !

Chữ nghiêng in đậm có dấu*chỉ những thắng cảnh của Quảng Ngãi:1-Thạch Bích Tà Dương ranh giới giữa Minh Long và Sơn Hà   2-Thiên An Niêm Hà Tịnh Châu-Sơn Tịnh,3-Thiên Bút Phê Vân Nghĩa Lộ Tư Nghĩa 4-Long Đầu Hí Thủy-đầu cầu Trà Khúc Sơn Tịnh 5-La Hà Thạch Trận-Thôn La Hà-TưNghĩa 6-Hà Nhai Vãn Độ Tịnh Hà Sơn Tịnh 7- LiênTrì Dục Nguyệt Thôn Liên Chiểu-Đức Phổ 8-AnHải Sa Bàn-Ba Làng An-Bình Châu 9-Thạch Ky ĐiếuTẩu cảnh này ở biển Sa Kỳ-đông nam Bình Sơn10-Cổ LủyCô  Thôn-Nghĩa Hà,Tư Nghĩa 11-Vu Sơn Lộc Trường-Tây bắc SơnTịnh.12-Vân Phong TúcVũ-Cà Đam Trà Bồng.13-Sa Huỳnh xã Phổ Thạnh ,Phổ Châu,ĐứcPhổ14-MỹKhê xã Tinh Khê,SơnTịnh.15-Vi Men xã Sơn Dung,SơnTây.16-ThácTrắngThanh An,MinhLong 17-Thạch Nham-đập ngăn sông Trà đưa nước lên đồng tưới ruộng khô gần như khắp Quảng Ngãi.

*1-Khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11/3/1945 ,,Trà Bồng khởi nghĩa 1959 . -*6-Cu Nguyễn Cư Trinh người của triều đỉnh Nguyễn  được cử đi khai phá đất phương Nam,chính  cụ khẳng định Quảng Ngãi là vùng đất thiêng,cụ đã thổi vào QN cái sinh khí thiêng liêng và đã tạo được những tượng đài hoành tráng sống mãi với thời gian,  vùng đất rồng ẩn,có ấn và bút trời ban *7-Nhạc sĩ Vân Cao sau 200 năm,năm 1945 khi đi công  tác lưu lai QuảngNgãi vài ngày nhận xét :Xứ này thiên nhiên quá đẹp, nhạc sĩ nổi tiếng này là tác  giả bài hát Thiên thai.*8-Cụ Huỳnh Thúc Kháng khi đi kinh lý miền nam bị ốm mất được an táng trên núi Thiên An.

Nhân kiệt

Đất thơm bởi có hương đồng,

Người khôn nhờ có núi sông vun trồng

Mẹ nghèo tài sản thì không,

Sắn khoai nuốt chậm,tướng tài đẻ nhanh.

Mẹ năng đắp gốc chăm cành,

Cây thành cổ thụ ,cành đầy hoa thơm.

Đã nên quả ngọt hương nồng,

Hiền tài nở rộ đất rồng sử xanh.

Thời gian ghi dấu lưu danh

Anh tài kiệt xuất giữ  gìn đất thiêng.

Tung hoành trên khắp mọi miền,

Quân thù khiếp vía nể kiêng đức tài.

Tướng Quảng Mẹ đã dạy bài

Từ  khi núi với sông dài kết duyên.

Bùi Tá Hán ]1496-1568]

Thuở đi dựng nước ban đầu,

Cụ Bùi Tá Hán yêu say xứ  mình.

Quảng Ngãi sông núi đẹp xinh,

Trông như  tranh vẽ gợi tình nước non.

Dân cư trên mảnh đất Rồng,

Hậu duệ con cháu say nồng đất thiêng.

Phò Lê diệt Mạc dân yên,

Bắc-quân-đô-đốc* Thừa Tuyên nhậm quyền.

Khuyến khích sản xuất khắp miền,

Đoàn kết kinh thượng giữ yên quê nhà.

Xuôi ngược sông núi thuận hòa,

Nhân dân sùng kính thiết tha yêu Người.

Rừng Lăng cây cỏ xanh tươi,

Màu xanh trải kín đền thờ núi Ông.*

Thừa Tuyên đầu thế kỷ 16 gồm hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi,Núi Ong ở xã Nghĩa Điền

Hậu duệ cụ Bùi hiên nay ở đấy còn rất đông.

Trần Quang Diệu{1746-1802}

Ao sen Liên Chiểu *gửi hương bay,

Quyến rũ trăng vàng quyện gió mây!

Quảng Ngãi trai tài đi cứu nước,

Tây Sơn gái sắc đến nhìn ngây.

Tướng Trần Quang Diệu mê và đắm,

Nữ tướng họ Bùi Xuân đã say.

Hai tướng vươn theo triều Nguyễn Huệ,

Công to thắng lớn vực rồng bay.

Cụ là tứ trụ  của triều đình,

Tướng lĩnh tài ba một chiến binh.

Lính xuất ra đi là chiến thắng,

Quân thu về lại có quang vinh.

Rạch Gầm Xoài Mút Xiêm bại trận,  [1784]

Biên giới Xiêm La tướng đỗ kềnh.     [1790]

Đất Bắc phò Lê xua phản nghịch.

Quân Thanh tháo chạy vía hồn kinh.  [1789]

Qui Nhơn,Diên Khánh đánh Gia Long

Vây hãm và thiêu như đốt ong.

Nguyễn Anh đưa thù về cướp nước,

Rủi thay vận nước thiếu người trông!

Quang Trung đã sớm về cõi Phật,

Nguyễn Nhạc tài hèn đầu óc nông!

Danh tướng cả đôi đều bị hại,

Trời mây non nước đỗ mưa tuôn!

Nhân kiệt ra đi từ  đất Quảng,

Địa linh ghi mãi chiến công này.

Sài Gòn ai đến lở say ,

Hỏi đường Cụ Diệu mà quay trở về!

Võ Duy Ninh{1804-1859]

Sinh ra từ  đất Đại An*,

Cử nhân Giáp Ngọ (1834) bảng vàng được trao.

Hưng Yên Bố chánh chức cao,

Lại bộ Tả Tham Tri vào Triều đình.

Đất nước đang lúc điêu linh,

Tang nhà vừa mới,giặc rình khởi binh.

Vua tôi nhà Nguyễn rối tinh,

Chuẩn bị chưa sẵn,nội tình không yên.

Bất ngờ nhận được lệnh trên

Gia Định khẩn cấp lên đường chiến chinh.

Tây vào cụ Võ Duy Ninh,

Ra đi đánh giặc trọn tình nước non.

Luỹ đồn không chắc cỏn con,

Thế giặc áp đảo lớn đòn tấn công.

Gươm dao dáo mác tầm vông,

Vũ khí non nhỏ quyết không đầu hàng.

Bị thương tỉnh dậy ngỡ ngàng,

Gia Định thất thủ luỹ thành tan hoang !

Tuẫn tiết giữ  trọn lòng vàng,

Trời mây non nước mênh mang nhớ Người.

Cửu Long sóng vỗ muôn đời,

Gửi về Trà Khúc ngàn lời yêu thương.

Cụ Võ Duy Dương (1824-1871)

Theo cha cụ Võ Duy Dương,

Gò Công Đồng Tháp gan lì đánh Tây.

Lý Nhơn “Đám lá tối trời”,

Cùng với Trương Định sáng ngời chiến công.

Đầm lầy Gò Tháp mênh mông,

Dinh luỹ hiểm yếu nhiều sông nối liền.

Đồn Tiền,Tả ,Hữu chân kiềng,

Hiên ngang đứng giữa một miền đồng xa.

Đất trời sông nước bao la,

Đến gần không được,đứng xa quá tầm.

Nhử cho giặc đến thật gần,

Tầm vông dao gậy được phần góp vui.

Mỹ Trà giặc phải ngậm ngùi,

Kinh hồn khiếp vía tiến  lùi đều gay

Hổ mang, bò vẽ,chông cây-

Binh đoàn du kích bủa vây quân thù.

Loại lính chưa thấy ở đâu,

Ao ào xéo giặc đàn trâu binh hùng,

Bò vẽ,mùi địch gây khùng,

Xông vào cắn đốt mắt sưng tai phồng

Đi tìm lại gặp hoả công,

Thần lửa thui đốt chạy rông la làng,

Giặc kia chưa hết bàng hoàng,

Chạy quẫn xuống ruộng bùn lầy dìm sâu

Mù u rải khắp đầu cầu,

Giặc trượt xuống hố lộn đầu dính chông.

Tổng quân cùng lập chiến công,

Có gì đánh nấy ruộng đồng vùng lên.

Nông dân chân đất chí bền,

Lúc động cầm súng, lúc yên cầm cày.

Đất màu ,sông nước đều tay,

Cá tôm lềnh ruộng,lúa đầy nuôi quân.

Thiên thời,địa lợi, lòng dân,

Sĩ phu “hảo hán”vây vầng” hào quang”

Thương nhân,hào phú sẵn sàng,

Tiếp tế lương thực.tiền vàng xin trao.

Vũ khí mua sắm dồi dào,

Hàng binh mang súng xin vào đánh Tây.

Trương Quyền liên kết bắt tay,

Liên minh quốc tế cùng xoay thế cờ.

Campuchia không đứng hững hờ,

Vòng tay ôm chặt cùng nhờ nương nhau.

Thiên Hộ *Dương yêu nước tâm giàu

Một Gia Cát Lượng trí đầy sáng sao

Binh pháp đạt đến đỉnh cao,

Tài trí Thiên Hộ đi vào lòng dân.

Chiến tranh du kích nhân dân,

Grânđê tướng giặc mặt đần hoảng lo,

Càng đánh thất bại càng to,

Báo về mẫu quốc mối lo thiên tào.

Cầu xin nhét lính thêm vào,

Gửi những bị thịt thật to đè người.

Đấu trí khó nuốt ngậm cười,

Nghìn năm Thiên Hộ sao trời khó so!

Tài năng đức độ khôn đo,

Tầm sâu ảnh hưởng gửi vào thiên thu.

Sóng xung vượt sóng thời gian,

Ào xô đánh Mỹ phép màu Hộ Dương*.

Anh hùng nhân kiệt thân thương,

Tiếng thơm vang vọng muôn phương mọi thời.

Hoa sen Đồng Tháp ngời ngời,

Dâng hương dâng cả ngọt ngào lòng dân.

Vũng bùn vùi dập tên Khanh,

Kêu cứu dân chúng nhanh nhanh hất giùm!

Chó săn nên để chân hùm,

Hổ ăn không hết quạ tha khử mùi!

*Chức Thiên Hộ Dương triều đình ban tặng khi cụ Võ dẹp loạn Đá Vách

*Trong chiến tranh chống Mỹ những phương thức đánh giặc của cụ Thiên Hộ được dùng.

Cụ Trương Định (1820-1864)

Theo cha đi khẩn đất vàng,

Chiêu người giữ nước thành quân quản điền.

Pháp đến bị đánh liên miên,

Đi đầu diệt giặc quân siêng luyện rèn.

Chiến tuyến kéo đến đất Miên,

Nhân dân hưởng ứng khắp miền gần xa.

Yêu dân,dân mến mặn mà

Triều đình lo sợ rầy rà thực dân.

Lệnh trên truyền xuống bãi quân!

Cắt đất bán nước cầu xin hoà bình.

Cả gan chống lại triều đình:

Khinh vua bán nước,việc mình Định lo,

Cụ Trương dẫn đắt phong trào,

Cân đai áo mão cụ trao”triều đình”

Dân chúng đòi cụ khởi binh,

Kinh ,Thượng nô nức đồng tình đánh Tây,

Dân tôn Nguyên soái Bình Tây,

Sĩ phu hưởng ứng quyết vây giặc bầy.

Muôn người thành những rừng cây,

Tân Hoà căn cứ dựng xây luỹ đồn;

Gò Công ,Vĩnh Lợi ,Đông Sơn,

Thành thế chân vạc giặc chờn vua lo,

Rạch Tra ,Long Thành ,Mỹ Tho(Thuộc Nhiêu)

Khởi nghĩa thường trực giặc co về đồn.

Phục kích truy đuổi đánh dồn,

Đánh chìm pháo hạm vía hồn thất kinh.

Bày trương thế trận nghi binh,

Đông kích,tây đánh điều binh khó lường.

Chờn vờn ở khắp nẻo đường,

Tìm giặc nện trước không nhường thế hơn.

Địch đang ở thế trượt trơn,*                  * Lúc này giặc Pháp chia quân đi giải quyết ở Trung Quốc

Chia quân đối phó,chập chờn thót tim.

Chủ động phá cảnh lặng im,

Ao ào liên tục quật dìm nhiều nơi.

Bô Na*rát cổ kêu trời,

Cầu về chính quốc,hỗn lời doạ vua.

Cụ Trương vừa đánh vừa đua,

Đúc súng,sản xuất, thu mua khí tài,

Mở rộng căn cứ rộng dài.

Chính quyền thiết lập,quân đầy nghiêm minh.

Cùng Nguyễn Trung Trực thâm tình,

Đánh tàu vỗ mặt,dùng tình nghi binh*1.

Phan-Lâm* mãi quốc cầu vinh,                         (*Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp)

Triều đình nhu nhược bán tình nhân dân.

Mồi chài đe doạ lắm lần,

Cụ Trương dứt khoát không màng để tâm.

Truyền hịch đánh đuổi ngoại xâm,

Trung thành vô hạn với quyền lợi dân.

Yêu dân trong vắt trắng ngần,

Vì dân quên cả son vàng riêng tư.

Đất chung quyết giữ không từ,

Giặc nắm”hoà ước”gầm gừ sợ thua.

Hiên ngang ,khí phách, khi vua:

Nhu nhược hèn nhát loại vua ăn nằm.

Cụ Trương lừng lẫy tiếng tăm,

Binh pháp cách đánh chơi khăm giặc thù.

Bị khăm Tây vẫn phải khen:

“Mưu lược khéo léo nhóm nhen phong trào,

Linh hồn của mọi phong trào”

Giặc hèn thậm thụt chó ngao rập rình,

Huỳnh Công Tấn  con hồ tinh,

Mò đêm hại Cụ bán tình nước non!  20/8/1864

Nghìn năm đất vẫn vàng son,

Anh hùng xuất chúng dân còn say mê!

Ai về đất Quảng-Mỹ Khê,

Ghé qua thăm viếng đền thờ cụ Trương,

Nhớ người kiệt xuất thân thương,

Đã đi xa lắc mãi thơm hương đời.

Cụ đi khuyết một góc  trờì,

Trương Quyền nối gót tuyệt vời đánh Tây!

Thù nhà nợ nước đôi vai,

Gồng người gánh nặng thân trai đáp đền.

Sự nghiệp cha để không quên:

“Tài lập căn cứ ,động viên mọi người,

Kinh thượng tim mát,mặt vui,

Cùng nhau giết giặc muôn đời lừng danh”.

Tây Ninh hiểm yếu rừng xanh,

Nhìn ra đủ hướng ,lá cành che quân.

Nghi binh Bắc, Nam lại quần,

Giặc hao tướng tổn,giam chân trong đồn,

Rạch Vinh  bị đánh dập dồn,

Thây không dám nhặt,ngồi đồn nhìn ngây,

Quan năm* chết thối đầm lầy,

Chỉ huy bỏ xác cho bầy chim ưng.

Trà Vang bị đấm sau lưng,

Ngày đêm vỗ mặt không ngừng phút giây.

Triều đình nhu nhược yếu gầy,

Bỏ dân bán nước lại ngây vì tiền .

Thơm như cụ Định,cụ Quyền, Ươn như Tự Đức dân nguyền,dân khinh.

Ước gì bà Đệ bà Trinh,(xem sau)

Ở vào thời ấy cầm quyền thay vua,

Chắc rằng đất nước không thua,

Dân trên ,vua dưới cùng đùa đại dơơng!

Nhân dân giữ mãi yêu thương,

Sĩ phu kính nể,muôn phương dõi nhìn.

Cụ  Quyền nghi binh làm  chệch hướng giặc,bất ngờ đánh sau lưng giết nhiều giặc như  tướngLa cơ dơ ở

Tây Ninh và tên quan năm Mác xét xơ tại Truông Mít-rạch Vinh-bỏ xác cho chim ưng,giặc rất hoảng sợ

*1 Cụ Trực  vờ  làm đám cưới gả người cho Tây ở  tàu Experance và đánh chìm

Trương Đăng Quế (1793-1865)

Học rộng tài cao bậc yếu nhân,

Thông minh uyên bác,sống yêu dân.

Ba đời vua chúa trong triều Nguyễn,

Bốn chục thu đi dưới cổng quan .

Mất nước đau lòng hồn trĩu nặng,

Yêu quê tha thiết dạ bâng khuâng.

Thơ văn thi phú tình lai láng,

Phương lược tầm nhìn bóng vĩ nhân.

Nhiệt thành trung hậu tính hiền hoà,

Kiệt xuất thanh cao sao chói loà.

Tiết kiệm cho dân đỡ đói rét,

Hàng Tây không nhập tránh xa hoa.

Dùng người thông thái không xu nịnh,

Giản  dị thanh liêm biết vị tha

Tham nhũng,loạn quan Người tẩy sạch,                                                                                                                                                                    Trời Nam không chứa bọn lang sa!

An trên ngồi trốc vua nhà Nguyễn,

Hám lợi cầu vinh bán nước nhà.

Xoay chuyển thế cờ không theo ý,

Sáu lần xin nghỉ,chán cung vua.

Ngẫm về thế cuộc đời nô lệ,

Nghĩ đến quê hương dạ xót xa.

Tủi nhục đời quan vì nước mất,

Về quê ẩn dật ấm tình nhà.

Từ quan chất sách vào thư viện,

Lịch sử văn chương,trước tác đầy.

Thơm nức tiếng khen còn để lại,

Lâng lâng hương sắc vẫn xa bay.

Phương nam lục tỉnh ghi chân bước,

Nét vẽ bản đồ lưu dấu tay.

Lỗi lạc Quảng Khê sao lấp lánh,

Rực trời đêm tối ánh trăng lay.

Mỹ Khê sông biển miền đất thánh,

Sông núi mẹ hiền ôm Quảng Khê*.

Mỹ Khê đời nào cũng lắm danh nhân người tài nhất là người dòng họ Trương,rực sáng trong đấu

tranh lao động,văn học nghệ thuật và trong các lĩnh vực khác…,Quảng Khê hiệu cụ Trương Đăng Quế.

Lê Trung Đình (1857-1885)

Hiệu Cử Long Cang

Cần Vương thủ lĩnh Cử Long Cang,

Khí khái,kiên cường tính rất ngang:

Quan lại vinh gì khi nước mất,

Thương dân ,liêm khiết chí can tràng.

Hiền tài kết lại xây căn cứ,

Quyết chí tung hoành đánh giặc tan.

Chí sĩ-anh hùng-con đất nước,

Tuyền Tung nuôi mộng cứu giang san.

Cùng Nguyễn Bá Loan,Nguyễn Tự Tân,

Tôn Tường đánh rát giặc ngây đần,

Để mà kịp chạy cầu phải đốt,

Hòng tránh no đòn lính quíu chân.

Truy đuổi bọn chồn vào tận ổ,

Xua dồn phản nghịch đẩy vào hang.

Loạn quân binh mã,run chủ tướng,

Cầu Cháy*gió dồn rượt Nguyễn Thân.

* Cầu Châu Ổ bỊ thay đổi tên là Cầu Cháy từ đấy

Vây hãm đánh thành giặc thét la,

Rẩy run quân tướng vướng hồn ma,

Cần Vương một thuở nâng hồn nước,

Ưng lịch* muôn đời vọng tiếng xa.       *Vua Hàm Nghi

Trăn trở khôn nguôi tim nhức nhối,

Mở lòng không nản, chí bao la.

Trung Đình lở vận sa tay giặc,

Liệt sĩ  mồ thơm hương ướp hoa!

Lớp lớp người đi qua chiến trận,

Hiên ngang,khí tiết,chí can tràng.

Pháp trường coi nhẹ như mây bọt,

Tâm sáng cao vời tựa mảnh trăng.

Thà chết không hàng phun nước bọt,

Quên đau làm nhục bọn nô quan.

Sĩ phu ngẩng mặt nhìn non nước,

Quắc mắt lườm khinh bọn chó săn

Trần Du,Thái ThúLê Khiết,

Liệt sĩ nghìn năm chí vẫn son.

Tuẫn tiết Duy Cung thư nhuộm máu*,

Tấn Kỳ cụ Nguyễn chí không mòn.

Đường dài chí lớn chưa cân sức,

Còn đợi mai sau lớp cháu con,

Cần Vương -Vua Nguyễn- chưa đủ lực,

Tây già –phù thuỷ quá ranh khôn!

*Trần Du (1864-1896)Thái Thú(1870-1894)Lê Khiết (1857-1908) Nguyễn Tấn Kỳ (1853-1913)

*Cụ Nguyễn Duy Cung trước khi tuẫn tiết lấy máu minh viết lên vạt áo gửi ra cho các đ/c  tiếp tuc nuôi ý chí cứu nước,giặc dụ hàng cụ nhổ vào mặt:”Thà làm ma có hồn trung vía nghĩa,Không làm người đeo mặt ngựa đầu trâu”

Những liệt sĩ Duy Tân Đông Du

Bỏ quan vì nước Lê Đình Cẩn (1870-1914)

Khởi xướng lập ra hội chấn dân,

Liên lạc Đông Du nuôi chí lớn:

Lọc mưa gạn đất nước trong ngần,

Đường đi nước bước Tây lo sợ,

Gây gổ giở trò hại yếu nhân:

“đả mạ thượng quan”-công sứ Pháp,

Để mà lấy cớ biệt ly giam!

Đày ải giết mòn người chí lớn,

Giấc mơ còn mãi hướng Đông du.

Nhằm theo phương hướng bước đi xa,

Tìm bạn chân tình để giúp ta,

Nhật Bản ngày xưa ai biết chắc,

Mà lòng tin vội bước hào hoa,

Đông Du tìm đặt niềm hy vọng,

Võ Quán*theo cùng những thiết tha,(1869-1913)

Vượt sóng trùng dương đèn sách học,

Để rồi Nhật quốc đẩy đi ra!

Trung Quốc giấc mơ còn sót lại,

Vào trường quân sự bước đường ra,

Bôn ba hải ngoại lòng cháy bỏng,

Cứu nước lầm than những mặn mà

Nhớ nước đau lòng tim quặn thắt,

Mà mang trọng bệnh phải đi xa,

Gieo mình sông lạnh trời phương Bắc,

Một mối thù chung chưa bước qua!

Lê Ngung,Nguyễn Thuỵ cả Trần Thêm,

Võ Cẩn ,Võ Cư ngày lẫn đêm

Móc nối Tuấn Mai cùng Hứa Thọ

Tung đòn Khởi nghĩa nghĩ rằng êm!

Chó săn phù thuỷ luôn rình rập,

Đao phủ gươm dao khát máu thêm,

Giết sạch bêu đầu khi trứng nước,

Duy Tân để hận trước Xuân thềm!

Trương Quang Cận (      -1928)

Khải Định và toàn quyền Méc lanh,

Mị dân chơi trội nới tay phanh:

Tỏ ra giúp đỡ dân nghèo khó,

Chỉ trỏ bảo làm cải cách nhanh.

Lựa gió theo chiều tay đã ngoắt,

Men đường đi dọc ngỏ loanh quanh

Hương Năm*khôn khéo nương theo luật,

Chớp lấy thời cơ để tự hành.

Ra tay hoạch định hương làng mới,

Sải nhịp thời gian để bước dồn.

Thay đổi toàn diện đời sống cũ,

Làm hay từng nếp nghĩ tâm hồn.

Văn minh đối xử tình làng xã,

Lập quỹ giúp người nghĩa xóm thôn.

Giúp trẻ ưu tiên đi học chữ,

Người già chăm sóc đỡ cô đơn.

Đầy trời mây phủ bóng mây đen.

Một mảng trời xanh có nắng chen.

Trí sáng người khôn cầm ngọn đuốc,

Bạc màu đất cát nở ao sen.

Trà Bình không khí trong như lọc.

Dân chúng đêm đen đủ ánh đèn!

“Cộng sản lạc thôn” vùng ngập sáng,

Ai đi đến đấy cũng đều khen!

Yêu dân tha thiết tình nồng ấm,

Dù có chông gai cũng vượt qua.

Vừa thấy trời cao tung cánh én,

Đã nhìn xuân rộng nở đầy hoa.

Xứ  nghèo đá sỏi Trương Quang Cận,

Người tốt tâm vàng ý tưởng xa.

Đất đã phì nhiêu “trời cộng sản”

Tình làng nghĩa xóm đẹp hơn ra!

Tiếc thay vua chúa mắt nhìn ngơ,

Thượng đế bất công chả được nhờ,

Người sáng hiền tài gây tử nạn,

Dân nghèo khó nhọc chịu bơ vơ!

Đồng canh mấy thuở ngời hương ước,

Cộng sản một thời vui trẻ thơ.

Vừa mới nhóm nhen thôn xóm mới,

Phải đành trở lại cái ngu ngơ!

*Ong Hương Năm-là Ô.T.Q.Cận dân gọi khi Ong lập hương ước đồng canh.

Võ Thị Đe {1860-1930}

Lòng son dạ sắt trái tim vàng

Nước mất lòng đau thắt ruột gan.

Đã quyết theo từng cơn sóng dậy,

Bám thuyền lướt sóng lũ sang ngang.

Cần Vương,Cộng Sản, Thanh niên hội,

Điền sản, gia tài,những con ngoan,

Tất cả guồng theo cơn lốc mạnh

Hòng xua bọn cướp khỏi nhân gian.

Giúp người ra khỏi chốn biên cương,

Để hỏi siêu nhân những con đường.

Cứu nước thoát tù gông nặng cổ,

Vực dân chớp lấy sóng triều dương

Đôi chân bám chặt quê nhà Quảng,

Hai mắt dõi nhìn khắp bốn phương.

Đất Bắc trời Nam mong kết lại,

Làm cho đất nước dậy thơm hương.

Tiếp tế quân lương mua vũ khí,

Nuôi quân cứu nước ,đẩy thù xa.

Đứng cao thách thức bầy tôi mọi,

Quay rộng dõi tìm bạn giúp ta.

Chồng chết nửa đời, dân mất nước,

Con tù hai đứa, mẹ xông pha.

Dang tay giúp nước không hề sợ,

Trợ giúp đồng bào ý thiết tha.

Đàn ông như thế được bao nhiêu?

Hộ quốc mẫu nghi* sức sóng triều.

Tình nghĩa đồng bào xao xuyến gọi.

Trái tim nhân hậu thiết tha yêu.                                                                                                                                                                                      Giúp người đói khổ lo trăm việc,

Cứu nước lầm than nghĩ lắm điều.

Vì nước vì dân đâu có ngại,

Mẹ hiền như thế thật là siêu!?

*Bà Đệ được tổ chức tặng danh hiệu Hộ quốc mẫu nghi ,Bà giúp Nguyễn bá Trác đi Đông du

về sau Trác phản bội làm tuần vũ đàn áp cách mạng.

Đinh Gia ( 1962)

Cà Đam đứng ngắm Trà Bồng,                                                                                    

Người Cor mong đợi Đinh Gia gánh gồng.

Che chở đỡ khổ dân trông,

Pháp cho phó tổng tặng ông chức quyền,

Có chức phó mục ông nguyền:

Giúp dân phá ách chặt xiềng thoát gông,

Nước Xu Đỏ liên kết đông,

Phong trào chống Pháp núi rừng đứng lên.

Mua sắm vũ khí cung tên,

Quân chia bốn cánh kéo vây huyện đồn.

Phá lao diệt ác giết mòn

Gò Rô ,Nước Vọt dập dồn Cà Tinh

Chánh Tam,đồn trưởng Bóc-tơ (Borte)  1942

Chánh Niêm cả lũ ngu ngơ chầu trời.

Nghĩa quân cùng lập chiến khu

Cà Đam giữ chắc bao thu dân nhờ,

Phó mục Gia không mập mờ,

Cor, Kinh một khối không thờ bọn Tây.

Nồi da xáo thịt chúng bày,

Đinh Gia vạch mặt cả bầy Việt gian,

Đánh không được giặc dụ hàng,

Một lòng chung thuỷ không màng hư danh,

Tâm vàng ,nghĩa cả mãi xanh

Trăm năm* son sắt trung thành với dân.       * Cụ Gia sống hơn trăm tuổi

Tầm vóc uy tín nấc vàng,

Huân chương dân tặng muôn ngàn tình thương

Về tiên để lại vấn vương,

Công ơn dân nhớ thiên đường vời trông!

Lớp người Cộng sản.

Người xưa đi dựng nước,

Bỏ tất phía sau xa.

Chỉ nhớ đem theo lửa,

Và gươm thiêng sáng loà

Lửa nồng nôi hạnh phúc,

Gươm báu giữ quê nhà,

Gươm lửa hồn sông núi,

Tình quê hương thiết tha.

Tây vào thi nhau nện,

Cầm chắc lưỡi gươm thiêng,

Lửa thắp hồng đêm tối,

Soi bình minh sáng lên.

Sĩ phu người lớp trước,

Tiếp đến lửa Cần vương,

Đông Du trời Nhật Bản,

Bị vùi dập liên miên.

Tiền nhân giữ  lửa trong tro nóng,

Hậu thế khơi lên ánh sáng hồng ,

Tiếp lửa Công Nông  bùng ngọn đuốc,

Soi trời tăm tối xua đêm đông.

Sử vàng đã mở sang trang mới

Nhịp bước trào dâng toả ấm nồng.

Sinh khí tràn lên từ mọi nẻo,

Mùa xuân én liệng khoảng trời trong

Trương Quang Trọng (1906-1941)

Có chí thông minh biết chọn đường:

Học trường, lựa bạn,lối thơm hương.

Mênh mang lắm ngã nơi nào bước,

Ngã rẽ nào đây có mến thương,

Học để cứu người và cứu nước,

Y khoa ,Cộng sản chí muôn phương,

Giảng đường đứng ngắm trời Xô Viết,

Thấy phía trời xa có ánh dương.

Sách đèn nghiên bút chí làm trai,

Đã bước vào đời không bước sai,

Đã dắt nhau đi ,đi đúng hướng,

Lửa hồng gươm báu sáng tương lai.

Võ Tòng, Nguyễn Thiệu…người chung hội*1,

Bị bắt đòn già chẳng chịu khai.

Quyết chống khổ sai nơi họng súng,

Hiên ngang chết trẻ lở ngày mai.*2-

*1-Việt Nam Cách Mạng thanh niên hội.*2-Cụ Trọng cầm đầu việc chống làm  xâu bị Pháp bắn chết ở

Kon Tum.Các cụ Nguyễn Thiệu(1903-1989),Võ Tòng (1891-1964)-các đồng chí của cụ Trọng.

Cụ Nguyễn Nghiêm-Bí thư tỉnh uỷ đầu tiên của Quảng Ngãi (1904-1931)

Đường đi cứu nước tiếp chân cha,

Nối gót tiền nhân quyết bước xa.

Lửa đỏ gươm thiêng truyền sức sống,

Phất cờ Cộng sản mở đường ra,

Chó săn hổ báo đang lồng lộn,

Giết chóc sách xưa bọn cướp già.

Đã quyết hy sinh đâu có ngại,

Đầu rơi máu chảy, hồn bao la.

Nguyễn Nghiêm,Võ Sĩ,Nguyễn Năng Lự

Chém giết tù đày chẳng chuyển lay!

Chết để gieo mầm cho sự sống,

Muôn đời sống mãi với nồng say!

Pháp trường bước tới ,thơ ngâm vịnh,

Tưới mát mầm xuân tung én bay.

Ngẩng mặt hiên ngang nhìn cánh nhạn,

Trêu ngươi chọc tức một đàn cầy

Phạm Văn Đồng [1906-2000}

Cất bước ra đi hướng sáng sao,

Chông gai ghềnh thác chẳng hề nao.

Lòng son nung nấu tình yêu nước,

Ýchí bừng lên sóng dạt dào.

Trí tuệ tầm nhìn xa sắc sảo,

Tài năng đức độ đậm thanh cao.

Hành trang ngần ấy đường muôn dặm.

Lý trí giòng tuôn những ngọt ngào.

Người con xứ Quảng-ánh  trăng sao.

Mài sắc tâm hồn luôn khát khao

Ngọn lửa rực hồng khi tối khuất,

Giọt sương mát mắt dưới trời cao.

Diễn văn”đốt trại”trên đất Pháp,

“Thầy đỏ”*dạy người ở chốn lao.

Nhạy cảm ngoại giao tầm kiệt xuất,

Rèn người ý tưởng sắc như dao.

Sao sáng càng nhìn càng thấy tỏ.

Cây già không héo lá xanh mềm.

Mùa đi rồi đến vườn say lộc.

Tóc vẫn màu xưa gối đã quen,

Trí tuệ không mòn luôn sắc sảo,

Mùa xuân trở lại én bên thềm,

Khoan dung trong sáng nơi tim Bác,

Nhã nhặn rất tình ý sáng thêm!

Tinh hoa thế giới những người hiền,

Nhân hậu, thanh liêm- chút của riêng.

Đất rộng trải ra lòng nhân ái,

Trời cao nâng bổng ý xuân thiên:

“Giữ gìn tiếng Việt cho trong sáng,

Dạy dỗ con người luyện trí siêng”

Mộng ước còn ươm vầng trán rộng,

Tuổi già đã dắt dạo vườn Tiên.

Vườn tiên Bác dạo vẫn không yên,

Còn nợ nhân dân một ước nguyền:

Nơi chốn dạy người-thầy giáo giỏi,

Ngôi trường sư phạm vẫn chưa nên!

Ai lên Thượng uyển cho tôi nhắn!

Ở chốn trần gian lắm chuyện phiền:

Lớp chật,đông em,thầy thiếu lắm,

Ghế bàn không đủ phải ngồi chen!

Ba Tơ vừa mới bước ra,

Đón cờ khởi nghĩa vui mùa thu xanh,

Tưởng rằng rừng sẽ đủ cành,

Giặc Pháp quay lại cắt nhành lộc non.

Căm thù bừng dậy sắt son,

Qủi ác quyết đánh để giành tương lai.

Chín năm chống Pháp rất dài,

Quân thù tứ phía vành đai chúng rào.

Khu Năm sức vững chí cao,

Nhân dân đoàn kết bước vào chống Tây.

Trung ương xa tít đường mây,

Vũ khí lương thực đủ đầy tự  lo,

Bác Đồng tổ chức dân hò,

Reo vui đứng dậy nỗi lo đẩy lùi.

Kinh tế giáo dục khởi vui,

Chính trị quân sự ngược xuôi bước dài.

Đường đi trải lắm chông gai,

Bước qua một bước dặm hài vươn xa.

Bác về Việt Bắc xa xa,            /từ 2-1949/

Chân đi để lại cái đà niềm tin.

Việt Nam lắm giặc ngó nhìn,

Hết Tây lại Nhật Tưởng ra Mỹ vào!

Chức cao ý tưởng sáng sao,

Sức dai ,hồn rộng,tâm sâu, trí đầy,

Ba mươi năm giặc tỉnh say,

Thu đầy trí lực để xoay thế cờ.

Bọn ác vừa cút  xa bờ,

Lũ hèn đâm nhát bất ngờ Tây Nam.

Mượn tay nấp bóng bọn khùng,

Mưu toan bành trướng lấn rừng biển khơi.

Việc dồn Bác ít nghỉ ngơi,

Lao tâm khổ tứ để đời sáng hơn.

Đường đi dù có bước trơn,

Bác đi bước chắc bước khôn hơn người.

Vì dân vì  nước suốt đời,

Để lại gương sáng một thời Bác Tô (Bác Đồng)

Rồi đi theo gót Bác Hồ,

Thiên đình tinh tú nấm mồ săm soi.

Gia đình mẹTriêm.(Võ Thị Vàng)

Ai về An Phú-Tịnh Minh,

Nhìn sông ngắm núi nhìn rừng lên xanh,

Trà Giang uốn lượn bao quanh,

Trường Sơn chắn giữ đất lành ngàn sau.

Giòng đời họ Mạc* nối nhau,

Tô trang sử đỏ vẽ màu thời gian.

Xin cho lật ngược vài trang,

Hơn trăm năm trước đất làng ươm hoa.

Cụ Triêm cấy giống đỏ nhà,

Mười con chồng mất tà ma đầy vùng.

Thông minh gan dạ thuỷ chung,

Dạy thơ yêu nước ,gươm vung diệt thù.

Chí cao ôm ấp bao thu,

Hất gông nô lệ cho dù chông gai.

Xa xăm đường đến tương lai,

Gươm thù kề sát cổ vai chực chờ,

Hổ báo thì lại làm ngơ,

Chó săn mật thám lại sờ vết chân.

Anh Viêm, cô Ut, anh Trân,

Phạm Kiệt ráo riết chúng lần đường dây*

Mẹ già chúng doạ đoạ đầy,

Chúng bắt, chúng khảo,quấy rầy đủ phương.

Đòn tra đủ ngón thê lương,

Bí mật chúng giết chẳng thương giống nòi,

Ong Viêm kết với Duy Tân,

Chúng lùng chúng bắt cổ gần gươm dao,

Bỏ quê vì vỡ phong trào,

Đồn điền đất đỏ đi vào làm phu.

Tấm thân bòn gốc cao su,

Nỗi đau mẹ chịu biết bù gì đây!

Ong Trân* Lao bảo đi đày,

Ba Tơ an trí ông làm cau khô,

Tìm chút lãi với ý đồ:

Có tiền hoạt động thế cô phá dần.

Cuộc đời đẻ lắm trớ trêu,

Tù nhân quật khởi làm nên sử vàng.

Du kích xuống núi về dân,

Ong đi khu Bắc về gần Vĩnh Tuy.

Cuộc đời gói lắm gian nguy,

Ong làm cách mạng làm thơ chống thù,

Chín năm chống Pháp rối bù,

An ninh đất Quảng đứng đầu ông lo.

Họ ông Trân,ông Kiệt,bà Trinh là họ Mạc ,đổi thành họ Phạm-gia đình nhà nho phong kiến,con trai cho học võ làm thơ,thời phong kiến con gái cấm được học.

Trung Tướng Phạm Kiệt (1912-1972)

Thép mẹ tôi luyện cùng lò,

Dẽo dai bền bỉ dãn co đàn hồi.

Cái thời chảo nóng dầu sôi,

Làm trai chí lớn không ngồi chờ sung.

Giặc đang gieo gió bão bùng,

Đang gây chết chóc điên khùng khắp nơi.

Phạm Kiệt không đội chung trời,(1912-1972)

Vung gươm Xích vệ* để xơi giặc thù.

Bị bắt chịu án tử hình,

Lớn tiếng vỗ mặt chỉ tay vạch trần:

Này lũ giặc bác ái hay bất nhân?

Người Cộng Sản không tiếc thân,

Thiêu người đốt trụi bầy đàn chúng bay!

Bọn ra án  tái mặt mày,

Buôn Mê Thuột đổi đày chung thân.

Trong lao chúng muốn giết dần,

Cá ươn mắm thối dành phần tù nhân.

Mắm thối ông tắm cai tù,

Chó săn hống hách ,đòn thù ông cho.

Ở tù trăn trở đắn đo,

Quân sự chính trị toan lo miệt mài.

Cách mạng ngày một bước dài,

Mãn tù , an trí để cài bước chân!

Ba Tơ ông lại về gần.

Mẹ cho tiền bạc giả vờ chăn nuôi.

Đàn vịt vẫy cánh ngoắt đuôi,

Bịt tai che mắt lũ đui bọn khờ,

Am thầm đón lấy thời cơ:

Nhật hất Pháp, Ong phất cờ vùng lên.

Tiếng súng khởi nghĩa vang rền,

Ba Tơ đóm lửa làm nên sử vàng.

Hai tám chiến sĩ hiên ngang,

Du kích phát triển buôn làng bung ra.

Chiến khu cứ địa khai hoa,

Quân đội cách mạng xông pha khắp vùng.

Với dân giữ trọn kiên trung.

Như cá với nước chung cùng sớm hôm.

Già Kiêu,Rua ,Rói ông tìm*,

Keo sơn gắn kết Thượng Kinh một lòng.

Chiến khu tốt, người thêm đông,

Yêu thương gắn kết mặn nồng có nhau.

Sắn khoai mắm muối cọng rau,

Của dân không lấy, nuôi giàu tình yêu.

Tình dân- mảnh đất phì nhiêu,

Quân dân cá nước như diều gió nâng.

Căm thù chất chứa trong dân,

Là hòn đá tảng từ cao giáng đòn.

Yêu dân yêu nước sắt son,

Lòng vàng nghĩa cả luôn còn trong ông.

Cách mạng sự nghiệp sống còn,

Mẹ nung ý chí lòng son không sờn.

Mười lăm năm mẹ mỏi mòn,

Ba Tơ ánh lửa sớm hôm mẹ chờ.

Thời gian có cửa bất ngờ,

Tiếng nói lịch sử như chờ phần ông:

Mặt trận chờ lệnh tấn công,

Tốc chiến tốc thắng nông sâu phải lường,

Điên Biên Phủ đại chiến trường,

Bản lĩnh tài giỏi minh tường đắn đo:

Đánh chắc thắng chắc khôn lo*,

Phương châm tướng Kiệt như đò đang mong.

Một Ý tướng Giáp đang trông,

Đổi ngay cách đánh dọn xong chiến trường.

Nghìn phương nghe thắng Điện Biên,

Muôn lời ca tụng một thiên sử vàng.

Giặc Tây bị đấm ngàn cân,

Mẹ Triêm đẻ Tướng thực dân muộn phiền.

Anh Mười Mẹ gửi ước nguyền,

Đã thành danh tướng thêm vui cửa nhà.

Sử vàng còn mãi trải ra…

Bình luận về câu nói chiến thuật ở Điên Biên Phủ của tướng Kiệt đại tướng Võ Nguyên Giáp phải nói rằng:”Ngoài tướng Kiệt không ai dám nói câu đó”

Bà Phạm Thị Trinh [1914-202?]

(Cây đại thụ –Cô Út một-chứng nhân lịch sử từ 1930 đến giờ)

Ước gì có được phép tiên,

Phá tung xiềng xích được quyền tự do.

Tiên không có tự mình lo.

Nằn nì xin việc bà dò các anh.

Gái mù chữ con nít ranh,

“Về đi mót lúa và lo học hành!”

Xin làm liên lạc cho nhanh,

Gan to mật lớn đã đành  hơn Tây

Công tác liên lạc đêm ngày,

Tranh thủ học mót mê say đánh vần

Truyền đơn bà rải mọi sân,

Mái đình bà đặt dần dần gió tung

Tin bay mật thám nổi khùng,

Phép tiên Cộng sản đã dùng rất hay!

Công việc ngày một mê say,

Vận động quần chúng tham gia biểu tình,

Cầm cờ đi trước đoàn binh.

Trống mõ thu hút dân mình tham gia.

Đàn áp chó được thả ra,

Mã tà mật thám dò la chân Bà.

Trèo cây tránh cọp tránh “ma”

Sắn khoai lót dạ rừng già ở hang.

Chó săn lùng bắt dụ hàng,

Treo xuôi đánh ngược dư ngàn đòn roi.

Bí mật chúng cố tìm moi,

Kiên cường bất khuất bà coi khinh đòn.

Tra tấn tác dụng không còn,

Lời đường lưỡi mật nghĩ đòn này thiêng,

Tri huyện, tuần vu, toàn quyền*         Toàn quyền Patskiê,i

Thi nhau uốn lưỡi huyên thuyên đủ điều.

Tuần vũ ngon ngọt nói nhiều

Người tù con nít làm chiêu phản đòn:

Nầy tuần vũ!

Học nhiều phản bội nước non,

Ngoài chiêu bán nước có còn gì không?

Tuần vũ chết đứng trời trồng!

Toàn quyền họp báo chờ trông phép mầu.

Phóng viên,mật thám chen nhau,

Lom khom ngồi đứng vàng thau bịp loè.

Dũng khí Cộng sản được khoe:

Nữ tù hai đấng làm nhoè danh quan*

Công chúa diện mốt thật sang,

Được đưa nhập cuộc sẵn sàng nhử câu,

Công Tằng Tôn Nữ lắc đầu:

Con nít khôn quá ai đâu sánh bằng!

Vài câu qua quít lằng nhằng

Ra về mà chẳng nói năng được gì

Cô hầu mến phục nữ nhi,

Xem mình thân phận cung phi- nô tì,

Ước gì có dịp ra đi:

Bỏ cung Tôn Thất,quên đi Công Tằng.

Quan to bà lớn đâu bằng-

Nữ tù đáng nể trẻ măng đường hoàng!

Đứng vành nóng ngựa hiên ngang,

Vạch mặt chỉ trán thi gan anh hùng:

Bớ Tây già,này chó khùng!

Bọn mày thú cũng phải chê:

Tra khảo con nít không hề ghê tay!

Bình đẳng bác ái quá hay

Lấy giẻ gói lại về Tây mà dùng!

Quan toà thẹn mặt nổi khùng,

Vội vã kết tội để chuồn cho nhanh!

Trong lao bà học rất sành,

Bất chấp mắm thối cá tanh khá nhiều!

Tranh thủ bà học đủ điều:

Học đọc ,học sống,học yêu nước nhà.

Tri thức ánh sáng chói loà,

Xương rồng đất xấu mà hoa đâm chồi.

Đi xâu đứng chọc ,lì ngồi

Năm bảy nữ tướng chài mồi trêu cai,

Cai mê gái đẹp đùa dai

Chổi cả chục chiếc thượng đài quất dê,

Trận cười phô diễn hả hê,

Bà Trinh đi kiện cai về tù chơi,

Cơm thiu mắm thối cai xơi,

Nhăn mày đắng miệng đáng đời chó săn!

Nữ tù mưu trí ai bằng!

Cả cười khinh bạc đạp phăng lũ hèn.

Mãn hạn tù,nụ cười chen!

-Về làm gì?-cười, được thêm phen để làm!

-Làm Cộng sản ,rất mê ham!

Gia hạn tù,- cười, quá nhàm quá quen!

Kiểu cười bọn địch tức ghen,

Anh em đồng chí lại khen cách cười.

Giặc không hiểu tại sao lại cười?

Chó săn mà hiểu kiểu cười,

Thì  mồ của chúng đã không được đào.

Quan Tây tim thót nôn nao:

Người tù được học là dao chém đầu.

Cảnh giác chúng cấm từ lâu,

Tù Cộng sản có mưu sâu để đời:

Phân nhau để mắt không rời,

Canh cho nhau học-ý ngời thép xanh.

Thời cơ đến chớp lấy nhanh,

Ba Tơ khởi nghĩa quyết dành tự do.

Mùa thu cách mạng con đò,

Sang ngang Bến mới giọng hò mênh mang.

Niềm vui lớn ,việc nuí ngàn,

Kề vai cùng gánh nghĩa vàng nước non.

Gia đình giờ đã đông con,

Tướng*khuyên gác việc còn nom cửa nhà.   *Trung tướng Nguyễn Bình

Cộng sản mầm xanh thiết tha,

Cành chưa đủ khoẻ sao ta nở rời!

Ra đi nhớ mẹ dặn lời:

“Quyết tâm Cách mạng cho đời nở hoa!’

Chín năm chống Pháp đường xa,

Lội đêm công tác hổ rà bến sông,

Công việc nặng gánh thêm gồng,

Đôi vai trĩu nặng không mềm lòng ta.

Tri thức triết học bao la,

Cố mà theo học vươn xa tầm nhìn.

Thành  người ưu tú dân tin,

Bầu vào quốc hội để nhìn hộ dân.

Pháp rút xa Mỹ vào gần,

Tướng nhà đã mất con đàn chưa yên!

Về thu cũ nhớ phép tiên,

Đã từng nâng cánh bổng nhiên bay về.

Thăm lao xưa thấy bọn hề,

Chúng quì chúng lạy tha về thăm con.

Này!-ngày xưa đấm đá rất dòn,

Lạy Tây quì gối đã mòn tay chân?

Giá như nhớ được vài lần,

Đứng lên học cách chúng tôi mà về!

Nhìn chặng đường vui hả hê,

Thắng giặc,sáng mắt tràn trề động năng!

Huyền dịu những ánh sao trăng,

Thoát từ địa ngục đã băng lên trời.

Trên cao tuổi xế  đời người,

Giã từ công tác nói lời chia tay!

Về hưu bệnh lại phơi bày,

Bác sĩ khuyên bảo:hằng ngày cố ăn!

An để đủ sức nổ năng,

Bước theo tiền bối lên trăng về trời.

Co cượng lấy gậy chống trời,

Cây thuốc rau đắng của đời đầy kho,

Yôga phương thuốc trời cho,

An rau tập luyện bệnh hò tháo lui.

Thắng định mệnh một niềm vui,

Tử  thần đi mệt theo đuôi phải hàng.

Tâm hồn mở một cửa vàng:

Ly Tao bước tới bến chàng sông Tô*  Câu lạc bộ thơ Sông Tô

Niềm vui như sóng nhấp nhô,

Lăn tăn gõ nhịp lô xô mạng thuyền !

Mảnh Thu trăm tuổi  gần nguyên,

Tám mươi tuổi Đảng –có tiên trong lòng,

Hạt giống đỏ mẹ vun trồng,

Con xin dâng mẹ non bồng thiên thai!

*Toàn quyền Patskiê họp báo có phóng viên mặt trận bình dân từ Pháp sang,bọn mật thámđưa xePơ got mời bà Trân thị Hiệp và bà Trinh đến “phỏng vấn”

Nguyễn Chánh vị tướng tài (1914 -1957)

Làm trai đứng ở xứ thiên thai,

Giữa đất xây nên những tượng đài,

Lịch sử hiền tài hun đúc trí,

Tinh hoa ,uyên bác thấm hồn say.

Sớm nhìn Thiên An uy nghi sáng,

Chiều ngắm Trà Giang sóng chạy dài.

Thạch Bích Tà Dương sương lóng lánh,

Mây vờn Thiên Bút giục Hà Nhai*

Trường Sơn trùng điệp cao chon von,

Nhìn xuống chàng trai thấy bận lòng.

Mây nặng như đè lên tâm trí,

Bão bùng cứ nén xuống mầm non,

Cảnh tiên giặc xéo thêm mai một,

Đất mẹ hao gầy lại xót con.

Nguyễn Chánh sẵn sàng phanh ngực trống,

Moi tim đốt đuốc phất cờ  hồng.

Từ đấy tù đày và khổ nhục,

Đòn roi tra tấn vẫn trơ gan.

Trung kiên bất khuất hồn cao ngất,

Yêu nước vì dân tâm trắng ngần.

Gươm tuốt hồn say say cách mạng,

Lửa bùng thắp sáng sáng Trà Giang.

Ba Tơ đánh thức hồn non nước,

Vượt ngục ra về nắng chói chang.

Mặt trời lên sáng núi ngàn,

Đoàn quân du kích đã dần lớn lên.

Ong về nhận lệnh cấp trên,

Đưa quân về đến bên dân đỡ đần.

Miền quê vườn mát rộng sân,

Tình dân lai láng trong lòng nhân gian .

Hạ sơn ông nhận kiếm vàng,

Từ tay đại biểu người đang mang bầu,

Chẳng ai xa lạ cả đâu,?

Người từng” tri kỷ” yêu sâu bạn tù.

Trọng trách nặng bậc trượng phu:

Du kích phát triển bầu non vuông tròn.

Kiếm vung qua chín mùa thu,

At Lăng ông đánh Bô Pho tẽn tò,

Sương*gieo chín giọt tròn to,   *cô gái lúc mẹ mang bầu tên là Sương.

Xoe tròn mắt ngắm chín tầng mây xanh.

Tài thao lược tướng lừng danh:

Đồng bằng du kích,Tây Nguyên quân dồn,

Ep giặc ở thế chân chôn,

Bủa vây mà nện,chặn đường đánh ra.

Măng Đen rồi diệt Đất Đoa,

Thượng An thân rắn đã xa cái đầu*  lúc này chỉ huy đồn bị mất tích

Quân đang vô chủ ông hù,

An Khê giặc hoảng rút dù chạy luôn.

Đak Pơ tai ác khúc truôn,

Rọ đơm khó tránh phải chuồn thoát thân.

Mở đường máu thế gian truân,

Giặc đang hoảng sợ bị quần đảo điên.

Truy kích ông đấm liên miên,

Qui Nhơn hợp điểm thành trò viễn vông*!

Bây giờ nắng sáng rõ nom:

Bồ lúa vẫn ắp , chòi ngô vẫn còn!

Lúc bấy giò có thắc mắc tại sao lại bỏ vùng trù phú,đi giữ vùng núi nghèo nàn

Binh pháp uyên bác vàng son,

Địch mạnh ông tránh,giặc non ông dần.

Giặc đông thế yếu không cân,

Quân ta dù ít ông nâng thế cờ,

Ong đấm những cú bất ngờ,

Bọn hèn bỏ chạy “cỗ” to thu về!

Hỏi rằng tướng học ở đâu,                                                           

Mà dám thách thức,tướng Tàu tướng Tây?

Đáp rằng  học chốn tù đày

Nơi văn hoá Pháp vẽ mày lên râu,

Học từ lịch sử ngàn xưa,

Học từ truyền thống đã thừa nghìn năm.

Cha ông từng để tiếng tăm,

Linh hồn,trí tuệ,dạy căm giặc thù.

Cho dù vóc nhỏ không cân,

Mưu cao,trí dũng lấn phần tướng Tây!

Bô Pho hộ pháp thịt đđầy!*  Tướng cầm quân chiến dịch At lăng

Gặp ông đứng ngắm nỗi đau ê chề.

Gía như Pháp bớt vụng về,

Nhà tù không mở không hề thua đau.

Ngày nay có kẻ chuốt trau:

Thập lục ,thập thất viền vàng chữ đen.

Sống sao tránh khỏi nhục hèn,

Mồm thì bô tốt,bụng rèn gươm dao.

Biển đông sóng động lao xao,

“Lưỡi bò”thè liếm cỏ cao nhà nào?

Ngư dân Quảng Ngãi thét gào:

Thuyền cá cướp sạch,giặc nào ở đây?

Tây Nam Pôn Pốt lầy nhầy!*  Khơ Me đỏ 1977-1979

Môi hở răng lạnh… ở đây lạnh lùng!

Hoàng Sa xông cướp… nóng khùng

Bắt người đòi phạt lùng nhùng …tiền đen!

Tướng Chánh nay đã về Tiên,

Văn nhân không thiếu trò điên chớ bày!

Chín năm Pháp bủa tứ bề,

Trung  ương xa tít bộn bề nỗi lo:

Binh cường thực túc dân no,

Sản xuất tự cấp ông lo bội phần.

Ra đi từ gốc lòng dân,

Giọt máu chiến sĩ ông cần đắn đo:

Chiến sĩ tướng có rất nhiều,

Con thì có một sớm chiều mẹ mong.

Vọng phu vợ lính chờ trông,

Hành quân qua xóm cho chồng ghé thăm.

Phút chốc như thể trăm năm,

Lòng đang nắng hạn trăng rằm đường tơ!

Tâm hồn ông lắm chất thơ,

Bao la sánh đặc đậm bờ quê hương.

Bước chân nhân kiệt thân thương,

Linh hồn , dấu ấn chiến trường Tây Nguyên.

Ai về Thọ Lộc chớ quên

Nén hương cầu nguyện ông lên thiên đường!

Cuộc đời ngắn đi muôn phương,

Công to,nghiệp lớn có nhường ai đâu!

*Chiến dịch Át lăng Pháp định đánh chiêm vùng tự do LK .V,vạch kế hoạch hợp điểm các binh đoàn Pháp tại Qui Nhơn

Hiền tài ,nhân kiệt từ lao tù Ba Tơ

Hiền tài từ đất Ba Tơ,

Những gương sáng chói trang thơ để đời.

Anh tài giặc Pháp đã mời,

Đến trường “đại học” một thời xa xưa.

Sinh viên học sớm học trưa,

Cơm thiu mắm thối canh thừa trường cho.

Thực tập tự ý mà lo,

Một nơi trường cấp khỉ ho cò gù-

Ba Tơ thung lũng xa mù,

Đi xa cấm vượt năm trăm mét đường!

Sinh viên trí dũng tính cương,

Tê Đơ * nuôi vịt nhà trường không chê!

Nguyễn Đôn* cách sống vụng về,

Mắc phải “lao phổi”ở ghe xa người,  Ong vờ mắc bệnh lao

Cách ly ông  khỏe vui tươi,

Lập xưởng in ấn có trời chứng cho,

Những khi phổi bớt hen ho,

Gùi mang gậy chống giả trò”đi buôn”,

Đi lên Cơ Nhất tìm nguồn,

Cung tên bẩy đá tặng trường dạy ông.

Những ngày trời sáng trăng trong,

Truyền đơn cách mạng rải rong khắp vùng!

Ba Tơ khởi nghĩa nổ bung,

Toàn quốc  đứng dậy anh hùng mê say:

Truyền hịch cứu nước đêm ngày,

Nha Trang ông đến Tây Nguyên ghé vào.

Chuyện Tây trở lại ồn ào,

Phong trào kháng chiến lên cao khắp vùng!

Căm thù âm ỉ nấu nung,

Giết Tây giết cả bọn khùng mưu đen,

Thế rồi bọn Mỹ đứng chen,

Diệm lê máy chém đêm đen kéo dài:

Ap chiến lược rào kẽm gai,

Giết chóc đầy ải hiền tài trí cao.

Lệnh trên ông đã được trao,

Giải thoát chị Nghĩa*đưa vào vùng sâu. Chị Nghĩa-luật sư Nguyễn Hữu Thọ

Ong từng mến mộ từ lâu,

Cố đưa được chị về bầu trời cao,

Chị về thêm một vì sao,

Long lanh chiếu sáng tầm cao nước nhà.

Tây cút Mỹ đã đi xa.

Vinh quang vàng óng bao la ông nhìn,

Đời qua những lắm mùa thu,

Hai cuộc kháng chiến cho dù chông gai,

Yêu dân yêu nước không phai,

Suốt chiều Cách mạng không sai nhịp đường.

Trung tướng đầu đã tóc sương,

Dân yêu,Tiên mến,Phật thương ông hoài!

Ong  Ba*suy ngẫm khá lung, (ông Trương Quang Giao 1910-1983)

Gạn lọc tin tức, tập trung ý vàng,

Đắn đo,cân nhắc rõ ràng,

Đường đi nước bước giữa ngàn khó khăn.

Thời cơ khi đến không chờ,

Trở trăn năm tháng đợi giờ khai hoa.

Phát xít đã hoá hồn ma,

Vùng lên chộp lấy,tống bầy hung nô!

Nhân dân- những lớp sóng xô,

Ap lên bến bãi cuộn trôi rác thù.

Ba Tơ tiếp đến mùa thu,

Bước đi thêm nữa với cùng nước non.

Tiên liệu bước trước ra đòn,

Khởi nghĩa tòan tỉnh nổ dòn không non.*

Người thợ cắt tóc linh hồn,   (k/n ngãy 14/8 ở Quảng Ngãi trước khởi nghĩa toàn quốc-19/8)

Làm nên lịch sử ,cái khôn người hiền!

Quên mình ông bước liên miên,

Quyết cùng giặc trước ,thù sau ra đòn.

Pháp cút, Mỹ theo đường mòn,

Đấu tranh thống nhất đường còn gian nan.

Người con đất Quảng kiên gan,

Quyết thu non nước đất vàng hương quê.

Công dân đất thánh Mỹ Khê,

Mang hồn Trương Định bay về trời Tiên.

Ban bạo động có Ông Tơ* (trung tướng Trần Qúy Hai )

Cũng từ đại học Buôn Mê ra trường,

Pháp,Nhật nện,Mỹ chả nhường,

Trời Bình Trị Thiên tư lệnh thân thương.

Giữ  trời che chở sông Hương,

Nghìn năm còn mãi tiếng thơm để đời!

*Những du kích Ba Tơ lấy bí danh 200,số1,2,3 ở cuối, như 202 là ông P.Kiệt và  Ô.lấy chữ T ở cuối ghép với 2 là T2,ô.Đôn là Đồn ,ông Ba là Ông Giao,Ô.Tơ là ô Trần Quí Hai

Cùng  thực tập có ông Lương*

Đánh Pháp đuổi Mỹ tấm gương kiên cường

Gót chân mọi nẻo muôn phương,

Dấu ấn để lại thơm hương khắp trời!

Bộ trưởng Cách mạng lâm thời,

Mỹ từng đối mặt nhớ đời thua đau.

Ba Tơ cho đến mai sau,

Lừng danh tướng giỏi khắc sâu bảng vàng.

Tình dân yêu tướng nồng nàn,

Tướng đi để lại muôn vàn nhớ thương!

*Tướng Trần Nam Trung-Bộ trưởng Bộ quốc phòng chính phủ CM lâm thời Miền Nam Việt Nam.

Võ Bẩm (1915-2008)

Những tù an trí ở Ba Tơ,

Khởi nghĩa vùng lên thật bất ngờ!

Chăn vịt một ông đầy ắp trí,

Nuôi tằm đôi bác lắm mưu cơ*

Bưng tai bịt mắt xua nghi hoặc,

Ngậm miệng nghe nhìn xóa vết trơ,

Ai biết về xưa đường muôn dặm,

Mới hay Võ Bẩm giấu gùi tơ.

Nuôi tằm để dệt những trang thơ,

Sợi óng vàng tươi nhuộm thắm cờ.

Tơ rối gùi sâu đem cất kỹ,

Lụa mềm trang trải rộng đường mơ.

Trường kỳ kháng chiến đường nhân rộng.

Gói cũ tơ xưa lắm chỗ chờ,

Giăng kín Trường Sơn mờ mắt giặc,

Rối như canh hẹ lái ngu ngơ.

Trận đồ bát quái phơi cho giặc,

Bom trút đạn cày chẳng chuyển lay.

Trùng điệp quân đi như nước chảy,

Xe lăn vũ khí chất thùng đầy,

Những tàu không số ra đi mãi,

Điểm hẹn Tướng Trà xen đó đây,

Trên biển đường mòn mưu trí dũng,

Chữ chi chạy rối dưới sương dày.

.

Tưởng rằng ngăn chặn như ăn cháo,

Nhấp nuốt nghẹn mồm lại khó xơi,

Đạn pháo vẫn theo vào chiến trận.

Quân đi quấy đảo khắp nơi nơi,

Bầu Bàng Bình Gĩa còn thừa đạn,

Mậu thân pháo tặng bánh Mỹ xơi.

Sấm sét Buôn Mê đòn điểm huyệt,

Quân tràn khắp nẻo thắng ngon ơi.

Đường mòn trên biển đường mòn núi,

Tướng đã trình lên Bác hả hê,

Kế hoạch Khổng Minh đường bát quái,

Tầm nhìn xuyên suốt ánh sao khuê.

Đôi đường đi mãi sâu năm tháng,

Lại trở về đây nơi Bác đi.

Đường đã trải vòng bao đất nước,

Để ngời xanh non nước niềm vui!

Gần trăm năm tuổi hiến dâng đời,

Ông đấm giặc vào đòn nặng xơi,

Vỡ trán bươu đầu vì tướng Bẩm,

Thân hư danh liệt bởi đòn chơi,

Trời cao nhớ mãi người hiền Quảng,

Đất rộng ôm hoài sóng biển khơi,

Chiến trận rối tung không chống được,

Giặc về quê tướng diệt Mỹ Lai!

Đường mòn vọng mãi hồn non nước,

Khúc hát quân hành vang bốn phương.

Triều sóng Mỹ Khê vùng đất Thánh,

Hát ru hồn tướng Bẩm thân thương!

Ông Trần Kiên – Nguyễn Tuấn Tài,Nghĩa Kỳ,Tư Nghĩa(1921-  2004)

(*Họ Trần là họ Mẹ)

Du kích Ba Tơ là Đội viên,

Nông dân thuần phác dáng người hiền.

Thủy chung nhân hậu ngôi sao sáng,

Tận tụy vì dân  một ý thiền

Cứu nước lầm than mang nặng nợ,

Thương nhà khổ cực gánh sầu riêng.

Làm trai đất nước còn điêu đứng,

Quyết chí ra đi để đáp đền.

K’lôngpút,cồng chiêng tiếng nước non.

Tờ rưng sóng nhạc suối reo trong.

Vang vang âm hưởng nghe tha thiết,

Sóng sánh ân tình quyện dấu son.

Ong đến Tây Nguyên như lẽ sống,

Đi cùng buôn –bản hệt người con.

Triền miên bước mãi cùng sông núi,

Chả tiếc đời xuân,chân mõi chồn.

Đường dài trăn trở theo chân bước

Kháng chiến trường kỳ nấc thấp cao.

Vời vợi Trường Sơn in bóng dáng,

Tượng thần yêu nước ánh trăng sao.

Đôi giòng tâm tưởng Nam và Bắc,

Một nửa xa vời nhớ nao nao!

Đành gác riêng tư  vào ẩn kín,

Mà lòng theo đuổi ánh sao xa.

Là chiến sĩ-

Căm thù đầu súng ông dồn,

đích thù ngắm đúng đánh đồn cho tan.

Là Tướng-

yêu lính yêu nước yêu nhà,

đói no cùng chịu mặn mà với dân.

Trường Sơn đất đỏ mịn màng,

Ong cho trồng sắn nuôi quân dài dài

Cây sắn sức sống dẻo dai,

Sống qua kháng chiến sống dài về sau!

Fun Rô bị đói kháo nhau:

Cho phỉ đào sắn Tướng Kiên mà xài,

Củ sắn thành chuyện khôi hài,

Làm nên huyền thoại làm bài trêu ông.

Là quan-

quan hanh liêm-lính Bác Hồ,

Không nhũng, không nhiễu, không phô oai quyền.

Chuyện nhỏ cũng chả gây phiền,

Khi đi công tác ông kiêng ăn chùa.

Cuộc đời xế bóng ông đua,

Với tay theo nhịp thời gian sải dài.

Nói ít ông nghĩ miệt mài,

Dự án kế hoạch đề tài vì dân.

Xa chức vụ bà con gần,

Nỗi đau hàng xóm thấm dần vào ông.

Con cái không,nhà trống không.

Vợ chồng chỉ hưởng lương hưu tháng ngày.

Bàn nhau quyết định rất hay:

Lương tiêu một suất,suất kia cứu người.

Yêu dân suốt cả cuộc đời,

Vì dân hiến sức cho đời thêm hương!

Rẽ đôi ngã hai” nửa gương”,

Nửa ngắm trần thế nửa soi thiên đường.

Lòng dân chan chứa yêu thương,

Xếp hàng nô nức chật đường tiễn đưa!

Bà mẹ Ba Tơ-Mẹ Thía* (mẹ người Thượng)

Theo chuyện kể của trung tướng Phạm Kiệt

Ba Tơ khởi nghĩa thoả lòng dân,

Rực rỡ hào quang tỏa núi ngàn,

Nô nức dân theo đường cách mạng,

Vui vầy mở hội ánh trăng ngân,

Nước Sung Cơ Nhất và Hang En,

Mảnh đất an toàn để luyện quân.

Cháo loãng rau khoai lòng ấm áp,

Mẹ nghèo yêu nước dạ trong ngần.

Mẹ mót củ khoai bới củ mài,

Gom về một rổ nặng đôi vai.

Hom hem thân mẹ khô gầy đét

Vất vả tuổi già bế rổ khoai,

Mất nước đau lòng con bị giết,

Còn đây căm ghét đất khô phai.

Cao Muôn cao ngất lòng yêu nước,

Sông suối vơi đầy mối hận sâu!

Quân không nhận sắn lệ tuôn trào

Nước mắt mẹ dồn lên khát khao,

Ao ước được gom cùng Cách mạng,

Thỏa lòng mong đợi với nôn nao.

Mẹ bừng ánh mắt bao vui sướng,

Mẹ hứng niềm vui khi được trao!

Năm tháng không quên hình bóng Mẹ,

Trái tim yêu nước chứa vì sao!

CụĐinh Nhá (1981-1984)

Đinh Nhá H’rê tin yêu,

Cà Dong thương mến nhiều.

Suy tôn thành tù trưởng,

Đinh nhận mà không kiêu,

Sớm tối nằm suy nghĩ,

Moi tìm những thức chiêu:

Thuế xâu cần miển giảm,

Cất nỗi khổ dân kêu.

Chước độc loài diều hâu:

Dùng dân tộc trị nhau,

Hận thù gây chia rẻ,

Đục nước thả cần câu,

Chánh tổng đưa mồi nhử,

Lưới chài gặp kế sâu,

Phản đòn lưới vây bủa,

Bổ mạnh nhát thật đau.

Cách mạng lại bung ra(1945)

Dân yêu quí mặn mà

Bầu ông làm chủ tịch.

Đoàn kết tình bao la,

Căn cứ cùng xây dựng,

Buôn làng lại hát ca,

Rẩy nương đầy lúa bắp,

Kinh Thượng ta cùng ta.

Đinh Nhá con trung kiên

Bản làng xây ấm yên,

Cùng nhau chống giặc Pháp,

Phiến loạn gây khùng điên.

Thuyết phục và lôi kéo,

Người lầm về đường tiên,

Không nồi da xáo thịt,

Mang vũ khí lại về,

Chuộc tội và lập công,

Luỹ đồn Đinh Eo*diệt,   Người giết con Đinh Nhá khi làm phản

Tà Mực lại mênh mông

Nợ nước lên trên hết

Mộ con cùng núi sông,

Thù nhà xin yên nghỉ

Ngửa mặt nhìn thinh không!

Đảng viên của núi rừng,

Từ xa xưa không ngừng,

Đi theo cùng đất nước,

Khổ đau và vui mừng,

Chung thuỷ cùng non nước,

Đinh Nhá đi không ngừng,

Đi mãi theo chân Bác,

Mắt rừng ướt rưng rưng!

Thượng tướng Trần Văn Trà- Nguyễn Chấn[1919-1996]

Ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng,

Quyết chí lên đường xếp bút nghiên,

Sông núi truyền đi lời cứu nước,

Bác Hồ trao tặng lưỡi gươm thiêng.*1

Nỗi lòng mang nặng hồn quê Quảng,

Tâm trí mơ về xứ  viễn biên,

Tống giặc hung tàn sang biển chết,

Để trời hương ngát một cõi tiên!

Ong đi theo cụ Võ Duy Dương,

Đồng Tháp xưa kia một chiến trường,

Chồng chất oan khiên còn để lại,

Ngút ngàn  căm giận vẫn sình ươn!

Hồn thiêng sông núi chờ nhân kiệt,

Đất nước nương đồng đợi ánh dương.

Ong trút kiếm thần lên xác giặc,

Diệt cướp càn đổi lấy yêu thương.

Cướp bầy Pháp Mỹ nghe danh tướng,

Đòn cũng xơi rồi tê buốt đau:

Dầu Tiếng,Đồng Xoài vùi xác giặc,

Đồng Dù,Địa đạo thử vàng thau.

Kế xưa cụ Võ còn tươi rói,

Mẹo mới Tướng Trà lại đủ sâu!

Ap Bắc Bầu Bàng đòn choáng váng,

Đặc công Rừng Sát Mỹ sưng đầu.

Ong cùng tướng Bẩm giăng màng nhện,

Bát quái rối tung trận đã bày.

Giấu kín đường đi cho vũ khí,

Che quân tiến bước dưới trời mây.

Đạn to pháo lớn đang còn thiếu,

Bù Đốp Bù Đăng lắm khí tài,

Diệt pốt quân thù ông lấy súng,

Phước Long Tướng dọn đống to gai !

Tiến về Đức Lập lên Buôn Mê,

Lấy pháo cùng tăng thêm hả hê!*2

Quay hướng sang đông sau Đắc Lăk,

Diệt quân bỏ chạy lết lê thê.

Điều binh khiển tướng khôn binh nghiệp,

Tư  lệnh lừng danh Mỹ khó chê!

Đường đến hang cùng sau cổng thép,

Nguỵ cho xác sống chạy ngô nghê.

Chiến dịch tử đòn Hồ Chí Minh,

Quân đi rầm rập bước trường chinh.

Biên Hoàcung chắn vòng Long Khánh,

Trọng pháo ,xe tăng cửa án binh.

Xác Đảo giơ thây thề sống chết,

Quân giăng kín cổng thử  bình sinh.

Tướng Trà điểm huyệt Dầu Giây chết.

Xuân Lộc sườn trơ giặc rối tinh.

Cửa thép bị tung lùa bão gió.

Răng lay tận gốc lợi còn chăng?

Cầm gươm cứu nước đi từ bấy,

Ngào ngạt tình dân hương ướp hoa.

Hãnh diện người con vùng xứ Quảng,

Vui đời binh nghiệp đất phương xa!

Trà Giang sông nước ghi ơn mẹ,

Thạch Bích non ngàn nhớ đất cha.

Nhân kiệt trao vui ngày chiến thắng,

Gươm vàng giữ lấy cho mai xa!

“Ra đi hai bàn tay trắng,

Trở về một giải giang san

Trăng xưa hạc cũ giòng sông lặng

Non nước thanh bình thiên mã thăng”

Sĩ khí ta nghe-lời chiến thắng,

Lời van giặc thốt-nhịp trầm than!

Nhân kiệt đi qua trang sử đỏ,

Bia vàng ghi lại ánh hào quang!

Đi qua chinh chiến tóc hoàng hôn,

Muôn trượng,tầm cao,ý thắm hồn,

Đuổi giặc xéo về lo nghĩ mãi:

Quê nhà người lính mẹ chờ con

Thân tàn áo bạc ngày về lại,

Con đói, vợ nghèo,mẹ héo hon,

Lòng Tướng,tình Quân chung thuỷ mãi,

Đạo đời xử thế,đức nên khôn.

Chiến tranh làm lộ tướng tài ba

Trở lại hoà bình tâm thiết tha:

Chăm sóc bạn bè xưa chiến đấu,

Đầy lòng nhân ái tim bao la

Hoàng hôn bệnh tật đời xế bóng,

Dặn lại cháu con ý mặn mà

Quyết chí dựng xây nên sự nghiệp

Chăm lo dồng đội tướng ngày qua!*

*Năm 1948 Bác Hồ trao gươm cho tướng Trà về Nam cứu nước *2Trươc chiến dịch

Tây Nguyên đạn pháo lớn cấm dùng,Ô.Trà đánh Bù Đăng lấy súng lớn để đánh Phước Long rồi Đức Lập.*Từ năm 2004 đến nay con út của tướng Trà- Nguyễn Việt Chi-một doanh nhân thành đạt đã xây xựng 200ngôi nhà tình nghĩa cho đồng đội nghèo khó của Tướng và cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng

06/04/2011 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Tuyển tập “LỜI THỜI GIAN” – Chương III

Chương III

Văn học & Nghệ thuật

Văn học dân gian

Thời gian- chuông gióng ngân nga,

So dây văn vũ âm ba quê nhà,

Quê hương duyên kết thi ca,

Văn thơ nhạc kịch vỡ òa muôn sao.

Em về lên ngược vùng cao,

Nơi lắm cổ tích nao nao lòng người.

Về nơi rừng thẳm xanh tươi,

Nghe đàn K’lôngpút, nghe cồng H’rê.

Về xuôi lẳng lặng mà nghe:

Hát hố giã gạo,hẹn hò dưới trăng.

Hát ru thắp ngọn hải đăng,

Để mai con trẻ từ nguồn ra khơi.

Hát vấn đáp tìm bạn đời,

Tìm hình bán nguyệt ghép tròn vành trăng.

Chao ôi say quá hát tuồng!

Sử thi, huyền thoại,cội nguồn thời gian.

Ca dao xuôi biển lên ngàn,

Ngọt lời non nước để ngân đêm dài.

Ai về Quảng Ngãi hát thai.

Giải bày tâm sự cho ai hiểu mình.

Hát bả trạo cầu yên bình,

Ngư dân đi biển lưới mành gặp may.

Từ xưa đất đã đắm say,

Dân mê hát bội-trầu cay cau nồng!

Người người rày ngắm mai trông,

Gánh hát sống lại diễn tuồng Lệ Thi*5

Về quê nghe hát bài chòi,

Ôn xưa,kể mới  cho đời tươi vui.

Ai về xứ “nẩu” quê “tui”[nẩu là họ,tui là tôi]

Tình yêu gửi lại,niềm vui gói về.

Nữ nghệ sĩ nhân dân vế hát tuồng

Tục ngữ,ca dao,hò vè…xứ  Quảng

-An hơn hờn thiệt.

-An xưa chừa nay.

-Cả mô là đồ lười biếng.

*Chim mía Xuân Phổ,

Cá bống sông Trà,

Kẹo gương Thu Xà,

Mạch nha Mộ Đức.

“Cô gái lòng son không bằng tô don Vạn Tượng”

“Don don don,dòn dòn dòn,

Có nghèo cũng cố lấy cho được cô gái bán don,

Mai sau nó chết vẫn còn cặp ui”

Ui là chiếc vò-từ địa phương

*Củ lang mỏng vỏ đỏ da

Ai về Long Phụng cùng ta thì về!

*Đèo nào cao bằng đèo Đồng Ngỗ,

Bộ nào cao bằng bộ An Ba.

*Sông Trà có núi Long Đầu,

Nước kia chảy mãi,rồng chầu ngàn xưa.

*Gái Thanh Khiết chuyên nghề cải giá.

Trai Sung Tích chuyên dạ kén dâu.

*-Ngó lên núi Bút quán Đàng

Cây bao nhiêu lá thương chàng bấy nhiêu.

*Muốn về Mỹ A ăn dưa,

Sợ e Mỹ Á đẩy đưa nhiều lời.

*Lên non tìm hòn đá trắng

Trách con chim phượng hoàng sao vắng tiếng kêu

Trời mưa đá nọ thành rêu

Đứa nào ở bạc, con dế nó kêu thấu trời.

-Anh có thương em

Đừng cho ai biết

Đừng cho ai hay

Đùng cho ai hiểu,ai hay

Đừng cho ai biểu, ai bày

Thâm thâm dìu dịu mỗi ngày mỗi thương

Nước mía trong cũng thắng thành đường

Anh thương em thì biết chớ thói thường biết đâu.

Ca dao trào phúng ai mê

Hãy nghe dân nói thói lề khá hay !

*Mít non dù ép chín bầm

Trai tơ đòi vợ khóc thầm cả đêm

*Vợ tôi nó giỏi vô song

Chưa đi đến chợ đã mong ăn hàng…

Vè nói ngược

Nực cười cơm nguội lên hơi

Muỗi bay theo đớp cánh dơi đầu nhà.

Chuột kêu chút chít gần xa

Bắt mèo ăn thịt không tha con nào

Câu đố

Cẳng vịt, thịt gà,da trâu, đầu rắn

(con gì?-con ba ba)

Trên lông dưới lông

Tối nằm chồng lên nhau

là cái gỉ-đôi mi mắt khi ngủ)

Thằng dẹp kẹp thằng tròn.

(Là cái gì?-khuy và nút áo)

Nói lái

Ai về xứ Quảng mua vui

Xin mời nói lái bật người cười điên!

*Nắng cực lái gió ghé Đồn Lâm,

Mua lọ cồn Lào trui mực lò tôn!!!

Thơ mới cận và đương đại

Dòng thơ bác học -những nhà thơ có khoa bảng và nho sĩ

Qua Quàng Ngãi -Thơ Quảng Khê Trương Đăng Quế

Bài thơ này Giáo sư Vũ Khiêu rất tâm đắc

Xuân phong tống chinh nghích                                   Gió xuân đưa nhẹ thuyền xuôi

Thuấn tức việt trùng ba                                                  Liếc nhìn theo lớp sóng dồi xa xa

Lộ chỉ cố hương quá                                                         Bên đường thấp thoáng quê nhà

Tình huyền du tử đa                                                        Tình vương lữ thứ xót xa can tràng

Không hoài Tang tử Kính                                              Nỗi niềm tang tử mang mang

Trùng xướng Thử miêu ca                                            Thử miêu ca khúc âm vang chẳng ngừng

Khởi lập thuyền đầu vọng                                            Dựa đầu thuyền ngắm mông lung

Dao thôn ẩn nguyệt la                                                   Nhà thôn dần khuất theo cùng chốn cây

Xuân giang khúc Sông xuân

Tạc dạ vũ thuỷ hạ                                            Đêm trước mưa rơi tràn

Xuân giang vi lãng sinh                                 Sông xuân sóng nhẹ lan

Thiếp tâm hữu sở cảm                                   Lòng thiếp vương tình cũ

Diên ngạn tự vi hành                                     Men theo bờ mênh mang

Thuận Thành xuân vọng

Thơ Nguyễn Bá Nghi(1807-1870)

Dịch thơ Lê Hồng Long

Thi thử nhung hiên pháp tráng đồ                   Vì bân chiến tranh kém vẽ hùng

Đăng lâm công tự bảo khu khu                       Đến đây quyết giũ vững non sông

Tâm đa kỹ quốc thiên hà truỵ                          Lòng lo trời kỹ đâu nào sập

Lục bạc cầm oan hải bất khô                          Sức kém bể hờn khó lấp xong

Ngũ nhạn tín tùng thiên ngoại viễn                Nhạn cá tin vua xa vắng Bắc

Sơn hà ánh nguyệt tại trung cô                       Nước non vành nguyệt quạnh hiu Đ6ng

Tam xuân hoa liễu hưng do tạc                       Ba xuân hoa liễu phô như cũ

Tu thức kim ngô diệc cố ngô                          Rằng tớ xưa nay vẫn một lòng

Tự vịnh

Thơ thủ khoa Đồng Lâm Phạm Văn Chất(1853-1931)

Đường thế lộ đi lâu đã mỏi*1

Hãy trở về coi cõi ra sao

Cúc tùng nay đã thế nào?

Cỏ cây ủ rủ,liễu đào xác xơ

Tấm lòng hỡi!Dại khờ chi bấy

Để cái thân theo khuấy mà chơi

Gẫm cho trong cái sự đời

Nhỏ rồi lớn,lớn rồi già,già ơi!Trối Kệ.

Con Tạo hoá cầm cân nghe cũng dị

Cây quế hoè*2  sao khéo gặp mưa dông.

Chén yên hà*3  giờ những ngóng trông

*1 Trí sĩ 1914

*2chỉ hai người con trai đều mất

*3Yên là khóc,hà:ráng ,cầu vồng

Lời vĩnh biệt

Thơ cụ Nguyễn Tấn Đức-Thầy Trợ Đức(1903-1992)

Từ đây xa lánh cõi trần,

Nghìn thu vĩnh biệt một lần này thôi!

Tám mươi năm lẻ làm người,*

Đường đời giong ruổi trải mùi thế gian.

Yêu đời,cầu tiến lạc quan,

Noi theo chí hướng ,bảo toàn thanh danh.

Tính tình giản dị hiền lành,

Đám tang nên chớ linh đình làm chi.

Giản đơn kiệm ước theo thì,

Nhập quan ,tống tán chớ đi coi ngày.

Lễ nghi thích đáng là hay,

Hoả thiêu lưu niệm, nhớ ngày ra đi.

“Nhân sinh bách tuế vi kỳ”,

Mon men chín chục ,ra đi cũng đành.

Cảm ơn cha mẹ sinh thành,

Cảm ơn xã hội giúp mình thuỷ chung.

Cảm ơn người bạn tâm đồng,

Cảm ơn con thảo hết lòng thương cha.

Cảm ơn mấy cụ bạn già,

Tương thân tương đắc cùng ta luận bàn.

Ra đi thương tiếc vô vàn,

Đường vào âm cảnh khôn toan trở về.

*Bài thơ được sáng tác lúc tác giặ tuổi-04năm trước khi ra đi.

Nhà thơ đương đại-giáo sư Nguyễn Tấn Đắc (SN 1931)

Ta là người hiện tại

Đâu thế hệ ngày xưa

Đâu con người thưở trước

Ai đã trót say sưa

Ai trọn đời say khướt

Đâu thế hệ ngày mai

Đâu con người sẽ đến

Ai làm kẻ tương lai

Ai muôn đời khác bến

Về đây hội thời gian

Ta là người hiện tại

Quên bẵng cái nghìn xưa

Chưa lo cái sẽ đến

Nối tiếp mạch thời gian

Truyền cảm thông trở lại.

1946 (15 tuổi)

Chỉ một mình em đã đủ giàu

Hai bàn tay trắng có gì đâu

Trần như con nhộng  giữa nương dâu

Đời cho rất ít không sao cả

Chỉ một mình em đã đủ giàu

Tiếc mãi

Anh và em xa cách

Ngày ngày mong thấy nhau

Ngày ngày mong gặp mặt

Tuy chỉ mấy nhịp cầu

Đêm đêm nằm thương nhớ

Hình em bỗng hiện về

Quý từ giây phút nhỏ

Quý từng lời tỉ tê

Gà bỗng đâu gáy sáng

Tan rồi một giấc mơ

Tan rồi cơn mộng đẹp

Tiếc mãi đến bây giờ.

2002

Vị đất quê mình

Đất lành nên mía ngọt

Đời vui nên người xinh

Vị đường phèn đường phổi

Mang vị đất quê mình

4.1986

Nhớ mãi

Nhớ mãi quê Quảng Ngãi

Những ánh mắt thân tình

Nhũng dỏng sông êm ái

Những nụ cười rất xinh

4.1986

Giọt nước mắt

Giọt nước mắt mẹ già

Khóc bao diều đã mất

Niềm vui chỉ thoáng qua

Nhưng nỗi đau rất thật

3.1986

Nụ cười Tây Nguyên

Yêu nụ cười Tây Nguyên

Còn chân chất hỗn nhiên

Tuy đã biết mắc cỡ

Nhưng chưa biết làm duyên

4.1986

Mai  và Xuân

Mai vàng một nhánh thật đơn sơ

Xuân đến xuân đi chẳng hững hờ

Cứ độ xuân về mai lại nở

Tình xuân mai hẹn đến bao giờ

Mai vàng một nét rất thanh tân

Vàng rực màu hoa đẹp tuyệt trần

Vườn xuân dù đã muôn nghìn sắc

Thiếu một mai vàng cũng thiếu xuân.

4.1986

Tháng giêng đến và đi

Nhà Thơ,nhà văn Thứ Lang

1-

Sau cùng,

cơn lũ già nua cũng ẩn mính chớ dịp khác

dòng sông trải dài niềm hối tiếc

khua những giọt nước mắt giận dỗi.

Mùa xuân đến

thả những bông hoa dại lấm tấm trên lối đi ẩm ướt

cuộc mặc cả muộn mằn.

(Ai đã vứt những hơi thở trên đường

như người hành khất trả lại từng đồng tiền sám hối?)

2-

Em đã may áo chưa?Áo mặc trong đêm dạ hội đầu tiên

chiếc áo sau cùng thời con gái-

hồi họp say mê thắc thỏm dại khờ

điều dự báo có từ bao năm trước

và em đã mở thêm trang giấy mới

trong cuốn sách riêng tư của đời em

không ngập ngừng không quả quyết không lo sơ như em đã sống

mà chưa từng chịu đựng

những hạnh phúc những khốn khổ

đến và đi không tưởng tiếc.

3-

Ngày tháng cứ trôi như dòng sông vô tội

Như tiếng chim mỗi chiều ngân nga hiền lành

từ tháng giêng này đến tháng giêng sau

trong nỗi lặng thầm chờ đợi

28.12.1995

Tự khúc

Nhà thơ đương đại giáo sư Phương Lựu

Em quê mùa khờ khạo hết mùa xanh

Ngốc nghếch đợi anh nơi tận cùng miền gió

Nơi cơn nắng chẳng thể nào hiểu rõ

Vắng một người,đồi đỗ bóng về đâu!

Anh lơ đãng một đời bỏ lại phía sau

Ô cửa màu xanh khép hờ vạt nhớ

Căn gác cũ rộng tênh hằng đêm bỏ ngỏ

Chờ tin ai ngang qua.

Ơ phía mây mù,anh nào biết đường xa

Phương ấy em về ngược chiều gió thổi

Em không hẹn,nhưng bao giờ cũng đợi

Sao không đưa em sang phía rừng chiều.

Gió chùng chình qua ngỏ đến cô liêu

Mở khép buồn vui em buông hờ vạt áo

Nghe vườn hoang trong tiếng loài dã thảo

Nốt guitare rơi trong cốc đêm buồn.

Hợp âm nào như sao băng vừa buông

Em tự ép mình giữa hai dòng thương nhớ

Ep nước mắt lạnh tê giữa hai mùa cỏ

Nên ký ức lạc đường đâu biết nẻo người qua

Và em tự hát cho mình

À ơi!

Lời ru thảng thốt đường xa…

Hạ 1997

Thu năm bảy mươi tám

Nhà thơ giáo sư ngữ văn Lê Hoài Nam (SN1930)

Tác giả sinh năm Canh Ngọ

Bảy tám mùa thu đã trải qua

Còn bao thu nữa đợi chờ ta?

Giòng đời tuôn chảy không ngơi nghỉ

Cuốn cả thân bèo lẫn xác hoa…

Chí nguyện ngày xanh đã lở rồi

Văn chương sự nghiệp áng mây trôi.

Miệt mài công việc quên năm tháng,

Chữ nghĩa còn đây mấy mảnh thôi!

Làm sao trở lại mùa thu cũ

Để đắm mình trong hương cảo thơm.

Thần trí lâng lâng trong sáng tạo,

Ngoài kia thu chín cúc vàng đơm.

Cuối thu Đinh hợi(2008)

Những tờ lịch cuối năm

Những tờ lịch rơi…rơi…

Năm tháng đầy-vơi

Bao người thân,bao bạn bè,đồng môn,đồng nghiệp,đồng chí

Nay ở đâu?về đâu?

Tuổi trẻ xôn xao,

Quảng đời nhiệt náo

Nay lắng thành dư âm đồng vọng…

Những ngọt ngào,

Những cay đắng

Đã tan trong dư vị mơ hồ…

Bóng hình mờ xoá

Màu sắc phôi pha

Chỉ còn

Vẫn còn

Đập mãi một trái tim hồng!

Trở lại quê hương

Hai mươi năm lẻ trở về đây:

Nhà cửa tan hoang cát bụi đầy.

Lồng lộng gió tuôn tràn mọi nẻo

Trông vời biển rộng tiếp chân mây.

Sông đào còn đó,bóng thuyền đâu?

Đâu tiếng đàn ca rộn mái lầu?

Đâu chiếc cầu con ngồi hóng mát,

Những đêm trăng sáng mộng ban đầu?…

Quân thù xé nát quãng đời xưa.

Mỗi bước chân đi một sửng sờ.

Gieo gió giờ đây bay gặt bão,

Quê ta trỗi dậy -nấm sau mưa!

Năm tuổi

Sáu giáp qua rồi quá “cổ lai”…

Ngựa già nghe gió nhớ đường dài.

Bao phen nước đại phi không mỏi,

Mấy thuở  tung hoành sức vẫn dai.

Vì chủ há nề cơn gió bụi,

Làm tôi chi kể chốn chông gai.

Một niềm trung hiếu lo tròn vẹn,

Tri túc tinh thần mãi thảnh thơi.

Mạnh xuân Nhâm Ngọ

NHỮNG NHÀ THƠ CÓ TÊN TRONG THI NHÂN VIỆT NAM

Bích Khê-Lê Quang Lương (1916-1946)

Nhà phê bình lớn Hoài Thanh:Bích Khê đã có những bài thơ hay nhất VN.

Lời giới thiệu

Tung hồn lãng mạng lên cung Quảng,

Để dụ chị Hằng rũ áo xiêm,

Thơ óng vàng ròng xuôi quá khứ,

Cầu hôn nữ sĩ đã mồ yên,

Dâng thơ loã thể vào trăng mật,

Nô lệ giai nhân hưởng mộng huyền.

Kim cỗ đông tây tìm mạch mới,

“Nghê thường” rảo bước góc trời riêng.

Cho thơ dạo gót vườn âm nhạc,

“Tinh huyết,Tinh hoa” nẩy nấc tiên,

Mầu sắc long lanh thơ tựa ngọc,

Hoà âm phối khí rộn cồng chiêng.

Mời nàng xuân đến thơ nâng cánh,

Đâm toạt màng trinh thơ miễn viên.

Khát vọng Bích Khê cao chất ngất,

Sao trời nở ngắt vội thơ duyên!

Bệnh tật ngăn đường giấc mộng son,

Túi thơ đầy ắp chất chon von,

Thời gian hạn hẹp cho thơ mới,

Sức kiệt ăn mày thơ tứ  phương.

Hồn thơ xoè cánh vươn biên giới,

Tiếc quá đời xuân đã mỏi mòn!

Cuối đời ra cổng nhìn cờ đỏ,

Gió phất cờ tung thơ cuốn lên.

Tân hôn thơ Bích khê-trong Tinh huyết.

Ồ làm sao thương nhớ quá!

Đêm nay trăng ngủ ở bên đường

Hồn chiêm bao hốt mơ trăng lạnh

Để giả vờ như  ấp bóng nường!

Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!

Không hay sao ốm lả hoa tàn!

Và đêm nay khóc cho nên mới

Lộ một sông trăng chảy lệ vàng!

Họ tưởng tân hôn êm ấm lạ!

Không hay xuân kín vỡ màng trinh!

Ngoàì kia gió lá luồn qua cửa

Chứng kiến làm sao chuyển đến cành?

Mộng rớt đêm nay như chất ngọc:

Người ta say nghiến những men tình;

Tôi hoan hô phút giây thần diệu!

Chết giả nhưng cười trắng thuỷ tinh.

Tỳ bà (Tinh huyết)

Vàng sao nằm im trên hoa gầy

Tương tư người xưa thôi qua đây

Ôi!Nàng năm xưa quên lời thề

Hoa vừa đưa hương gây đê mê

Tôi qua tim nàng vay du dương

Tôi mang lên lầu lên cung Thương

Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

Tình tang tôi nghe như tình lang

Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi

Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi

Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi

Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi

Buồn lưu cây đào xin hương xuân

Buồn thăm cây tùng thăm đông quân

Ô !Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi!Vàng rơi:Thu mênh mông

Duy tân trong chùm thơ Tinh hoa

Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới

Của lời thơ lóng đẹp.Hạt châu trong.

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng như chiều thu bóng nắng

Trong vòm xanh.Màu cưới màu bình lặng,

Gây phương phi:chiếu sáng ngả sang mờ

Vì hình dung những sắc mát,non ,tơ,

Như mặt trời lọc qua khóm liễu,một

Hoàng hôn-Oi đàn môi, chim báu tớt:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm,

Chữ trong vắt sánh nghệ thuật sầu câm

Đầy thẩm mỹ như một pho thần tượng.

Lúc trong ngâm,giữa kho vàng mộng tưởng,

Múa song song :khiêu vũ dưới đêm hồng

(Những con cừu tim trẻ mướt như lông

Men da thịt lên làn sa lụa mỏng.

Mỗi con cừu bốc lên men hy vọng…)

Thơ nhịp nhàng ý nhị nhịp nhàng thơ.

Tôi cắn vào trái bổ vỏ xanh mơ

Tìm chất quí thơm tinh mùi khoái lạc.

Bằng hơi mộng ,trong hàm răng,tản mát

Mộng?

Thiên tài?

-trên hỗn độn khoả thân

Đẹp tỉ mỉ,hỡi rung động truyền thần,

Ròng âm nhạc của lòng trai ấp mái,

Người hoạ điệu với thiên nhiên ,ân ái

Buồn, và xanh trời.(Tôi trôi với bờ

Em biếc-khóc với thu:lời úa ngô

Vàng …Khi cách biệt -giữa hồn xây mộ-

Tình hôm qua -dài hôm nay thương nhớ

Im lặng nhìn bông ý,lặng lờ lên

Những dáng hình thanh khí…)Giữa mênh mông

Đường nhiếp ảnh,sắc khua màu-Tiếng thở

Hỡi hội hoạ,đến muôn đời nức nở!

Ta nhịp nhàng ý nhị nhịp nhàng ta

Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa

Của âm điệu,mơ màng run lẩy bẩy:

Một hỗn độn  đẹp xô bồ say dậy

Bằng tình cảm,bằng hình ảnh,yêu thương,

Và mới mẻ- trên viện cổ đông phương!

(Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)

Thơ loã thể!Giai nhân tuần trăng mật,

Nữ thần ơi!ta nô lệ bên người!

Tế Hanh-Trần Tế Hanh (1921-1987)

Lời giới thiệu

Thời xưa xa ngái ngấm vào thơ,

Đất nước quê nhà sao ngẩn ngơ!

Cha mẹ, dòng sông và biển cả,

Đượm buồn như cuộc sống vong nô!

Thời “Hoa niên”đất trời mờ mịt,

Tiếng hát trôi dài đau giấc mơ.

Dạo gót lưu ly trên khắp nẻo,

Đương đi”Số kiếp”vẫn lơ mơ.

Mùa thu đã hái trên tay ngọc,

Cành lá đơm đầy ắp tứ thơ.

Tháng tám ươm vàng trên khóm trúc,

Ngày vui chảy mãi suối nguồn thơ.

“Nàng Bân” thấm thía mùa mưa rét,

Thời tiết hiểu lòng đan áo thơ.

Phương Bắc”Hàng Châu” đẹp vẫn thiếu,

Nhớ Tây Hồ dắt một nàng thơ.

Hoa niên,Số kiếp,Nàng Bân,Hàng Châu là nhũng bài thơ củaTế Hanh

Những ngày nghỉ học Thơ Tế Hanh trong Hoa Niên

Những ngày nghỉ học tôi hay tới

Đón chuyến tàu đi đến những ga

Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt

Lòng buồn đau xót nỗi chia xa

Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu

Ngàn đời không đủ sức đi mau

Có chi vướng víu trong hơi máy

Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau

Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề;

Khói phì như nghẹn nỗi đau tê;

Lâu lâu còi rúc nghe rền rỉ;

Lòng của người đi réo kẻ về

Kẻ về không nói bước vương vương…

Thương nhớ lan xa mấy dặm trường

Lẽo đẽo tôi về theo bước họ

Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương

Nhớ con sông quê hương

Thơ của Tế Hanh

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong xanh biếc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng

Chẳng biết nước có giữ ngày ,giữ tháng

Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi?

Hỡi con sông đã tắm cả hồn tôi!

Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ

Sông của miền Nam nước Việt kính yêu

Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu

Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy

Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy

Bầy chim non bơi lội trên sông

Tôi giơ tay ôm nước vào lòng

Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả

Kẻ sớm khuya chài lưới trên sông

Kẻ cầy cuốc mưa nắng ngoài đồng

Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến

Nhưng lòng tôi như mưa nguồn gió biển

Vẫn trở về lưu luyến ở bên sông

Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc

Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc

Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng” miền Nam”

Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng

Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc

Tôi nhớ cả những người không quen biết…

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây

Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy:

Hình ảnh con sông quê mát rượi

Lai láng chảy,lòng tôi như suối tưới

Quê hương ơi!Lòng tôi cũng như sông

Tình Bắc Nam chung chảy một dòng

Không ghềnh thác nào ngăn cản được

Tôi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước

Tôi sẽ trở về sông nước của quê hương

Tôi sẽ trở về sông nước của tình thương

Mùa thu Yanta

Sớm từ Mat-xcơ-va

Mùa đông bay tuyết trắng

Chiều đã đến Yan- ta

Mùa thu còn hửng nắng

Oi mùa thu Yan-ta

Một mùa thu rất Nga

Vừa thực lại vừa mộng

Vừa gần lại vừa xa

Cây sên màu vàng đậm

Cây dương màu vàng tươi

Cây phong vàng cả tấm

Không chiếc lá nào rơi

Trời trong tận không trung

Biển lặng đến xa cùng

Những cặp mắt Hắc hải

Yêu thương và nhớ nhung

Từng đàn chim hải âu

Bay lượn trắng quanh tàu

Mang tâm tình Sê-khốp*

Đi về đâu về đâu?

Nghe nói khắp Liên Xô

Chỉ ở đây còn nắng.

Ở đây còn nắng vàng

Khắp nơi đều tuyết trắng

Vàng nắng và vàng cây

Của muà thu rất Nga

Như về đây kết lại

Thành mùa thu Yan-ta…

Sớm: đông Mat-xcơ -va

Chiều lại thu Yan- ta

Thời gian như chạy ngược

Trên Liên Xô bao la             Sê Khốp-nhà văn Nga đã viết vở kịch nổi tiếng “Chim hải âu”

Nhà thơ,nhà báo,nhà văn và là cây bút chính luận xuất sắc Nguyễn Vỹ,hai

bài thơ Gửi Trương Tửu và Sương rơi được các nhà phê bình cùng thời như

Hoài Thanh,Vũ Ngọc Phan…cho là kiệt tác.Ong đươc sinh ra trong một gia

đình có truyền thống yêu nước.Văn chương ông phản ánh tình yêu nước của

chính ông .

Gửi Trương Tửu

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai!

Một mình rót uống chẳng buồn say!

Trước kia hai thằng uống hết một nậm

Trò chuyện dông dài mặt đỏ sẫm

Nay một mình ta, một be con

Cạn rượu rồi thơ mới véo von!

Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác

Mà coi đồng tiền như cái rác!

Kiếm được xu nào đem tiêu hoang

Rủ nhau chè chén nói huynh hoang

Xáo lộn văn chương với chả cá

Chửi Đông chửi Tây chửi tất cả

Rồi ngủ một đêm,mộng với mê

Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!!

Thời thế bây giờ vẫn thấy khó

Nhà văn An Nam khổ như chó

Mỗi lần cầm bút nói văn chương

Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương

Và nhìn chúng mình hì hục viết

Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết

Mà thương cho tôi,thương cho anh

Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh!

Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?

Tôi làm Trạng nguyên,anh Tể tướng?

Và anh bên võ,tôi bên văn

Múa bút tung gươm há một phen?

Chứ như bây giờ là trò chơi

Làm báo làm bung chán mớ đời!

Anh đi che tàn một lũ ngốc

Triết lý con tiều ,văn chương cóc

Còn tôi bưng thúng theo đàn bà

Ra chợ bán văn ngày tháng qua!

Cho nên tôi buồn không biết mấy

Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy

Ngối buồn lấy rượu uống say sưa

Bực chí thành say mấy cũng vừa!

Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ !

Chơi nước cờ cao lại gặp bí

Rồi đâm ra điên ,đâm vẩn vơ

Rút cuộc chỉ còn mộng với mơ

Sương rơi trong tập thơ “Bạch Nga” bài thơ được các

nhà phê bình và bạn đọc yêu thích rất độc đáo về hình ảnh và cấu trúc.

Sương rơi                                            Từng giọt

Nặng trĩu                                             Thánh thót

Trên cành                                            Từng giọt

Dương liễu…                                      Điêu tàn

Nhưng hơi                                           Trên nấm

Gió bấc                                                Mồ hoang!…

Lạnh lùng

Hiu hắt                                                            Rơi sương

Thấm vào                                            Cành dương

Em ơi,                                                 Liễu ngã

Trong lòng                                           Gió mưa

Hạt sương                                           Tơi tả

Thành một                                           Từng giọt

Vết thương!…                                     Thánh thót

Từng giọt

Rồi hạt                                                            Tơi bời

Sương trong                                        Mưa rơi

Tan tác                                                            Gió rơi

Trong lòng                                           Lá ơi

Tả tơi                                                   Em ơi!…

Em ơi!

Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm

Tiếng hát đồng quê

Cuốc này lay động gò hoang,

Cuốc này tỉnh giấc yên nhàn hư không!

Sáng mai vác cuốc thăm đồng,

Anh lo tháo nước chị trồng thêm cây.

Mưa hoà gió thuận từ đây,

Đá mềm chân cứng ta xây đựng đời.

Mùa chiêm lúa chín bời bời,

Trâu no rạ ngọt, người vui thóc vàng.

Bây giờ đây xóm kia làng,

Thuở xưa đây núi kia ngàn hoang vu.

Ngày qua cỏ cháy đồng khô,

Ngày qua lúa vựa khoai bồ man,man…

Cày sương nào những trai làng,

Cấy trăng nào những cô nàng xứ quê.

Ruộng xanh sớm tối đi về,

Xe sông chở nước trưa hè lên cao…

Hò khoan hời hỡi đồng sao

Đêm đêm sáng cả nam tào bắc tinh!

Sá chi cung tạ lăng đình,

Rồng bay phượng múa mà tình trống không,

Ơ đây tre luỹ rơm đồng,

Thôn đoài thương mến xóm đông một nhà.

Hò khoan này khúc âu ca,

Mồ hôi thấm đất sữa hoà nuôi cây.

Chiến trường bụi đỏ mờ bay,

Súng kia cùng với cuốc này bên nhau.

Nhạc sĩ Trương Quang Lục

Lời giới thiệu

Cánh nhac bay cao vút tận trời

Tàu trăng*1 chở sóng đến xa khơi.

Nhịp rung bến mới nồng hơi ấm,

Tiết tấu bờ xa dậy sáng ngời.

Chếnh choáng hơi men đời có nhạc

Ngất ngây xuân dậy én đưa thoi

Rộn ràng tiếng gõ tàu lăn bánh

Mà bến chị Hằng vẫn hụt hơi.

Đã cam ghé bến sông Hồng đỏ,

Lại nghĩ bờ xa Vàm Cỏ Đông*2

Nhạc đã đi vào bở lãng mạn,

Tình còn theo đuổi bãi mênh mông

Sông Trà sóng gợn như ghen tức,

Nhạc sĩ quên rồi có nhớ không?

Đất mẹ ngoan cường quêQuảng Ngãi*3

Nôi nồng hạnh phúc nhạc chờ trông!

Trái đất tròn vo mãi mãi quay,

Màu da con trẻ vẫn không thay.

Cùng nhau giữ lấy hành tinh sạch,

Mỗi bạn ta hò nhịp vỗ tay:

“Trái đất này là của chúng mình,

quả bóng xanh bay giữa trời xanh…”

NhạcTrương*4  quà quí cho con trẻ,

Để cà hành tinh các bé xoay!

*1-Bài nhạc “Chuyến tàu trăng” cùa tác giả có từ thập kỷ 60 của thế kỷ trước-thế kỷ 20.

*2-Bài nhạc ” Vàm Cỏ Đông”

*3- Bài nhạc” Quảng Ngãi đất mẹ kiên cường”.

*4-Bài nhạc  “Trái đất này là của chúng em”

Nhà thơ Thanh ThảoNgười nhận giải thưởng văn họcHồ Chí Minh đợt I

Ngân hà xứ Quảng trải vàng hanh

Soi sáng Ly tao cây trĩu cành

Sông núi bốn mùa xanh mút mắt,

Đá vàng một cõi sáng trăng thanh

Ly tao dệt thảm nền nhung lụa,

Thượng uyển trồng vườn thảm cỏ xanh

Nền ấy thảm kia xuân vĩnh viễn

Cảnh tiên người sáng thơ long lanh

Trường ca Thanh Thảo trải ngàn xa,

Mưa nắng thời gian vẫn hát ca.

Mạnh mẽ ,trần thô đầy quyết liệt,

Rộng sâu rung cảm đậm hài hoà.

Nghìn năm thơ tải hồn đất nước

Một thoáng trăng thề mộng thiết tha.

Hoài cỗ nhớ về Cao Bá Quát,

Thu Xà bước đến chắp Tinh hoa*

Trích trường ca Bùng nổ mùa xuân từ thảm cỏ xanh

Mưa quất xuống ta-man mưa nghiền nát

những con đường

những bông hoa vàng mỏng manh

những cây trắc rùng mình

trong sấm chớp

gió vỡ tan thung lũng hẹp

bầu trời rách tả tơi chiếc áo độc nhất

chiếc áo in số tù dính chặt vào da

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

buổi chiều

chim chăn vịt kêu

nhớ ban nghèo thuở nhỏ

đứa lùa vịt đứa thả bò cắt cỏ

lụt trắng đồng co ro mảnh áo tơi

. . . . . . . . . .  . . . . . . . . . .  . .

mọc lên những sở mộ phu

lầu xanh xóm cô đầu

những cửa hiệu rượu ty

pha cồn vào nước lã

những đại lý độc quyền

thốc phiện đổi thóc lúa

bán tự do

bổ theo đầu người phân phối

hãy uống hãy hút hãy quên

cơn giận nỗi tủi hờn cái đói

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

khi các anh bị chúng lột trần

chỉ có đôi guốc gỗ

thì xẻ guốc giấu những dòng chữ

chuẩn bị một kiếp nổ cho ngày mai

. . . . . . . .. . . . . . . . . . . . . . .

trăng

hỡi ngọn lửa không đốt cháy

đặt lên vai ta bàn tay mát rượi

xuyên suốt ta như ánh mắt tình yêu

áo ta mỏng lắm

tấm áo xanh bạc phếch của người tù

đường còn xa và đêm còn tối

chân rớm máu

khoảng sương trắng mờ kia có thật chăng

. . . . . . . . . . . . . . . . . . .

đêm thả rơi nhịp tắc kè

đêm xoáy tròn mắt ta khô khốc

uống nữa đi,người anh em

những tiếng cồng lặn vào ngực

như mặt trời xuống núi

ngực ta muốn vỡ

nghe âm u lời trối ông bà

. . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . .

những người Kinh buôn cau đôỉ muối

cái miệng khôn ngoan

nói có mật ong dính đầu lưỡi

uống nữa đi, người anh em

sức ta đâm chết heo rừng

nhưng chưa đâm chết thằng Tây

chưa khôn đâu!

mình chẳng có gì buôn bán

đêm nay mình đến bạn

như con mắt tìm nhau

như chiếc lá áp vào chiếc lá

như nỗi đau dằng dịt nỗi đau

nếu miệng ta thốt lời chua chát

đừng trách quả sung xanh

đừng trách mật ong

đến con suối nhỏ nhất rừng còn kiếm được

lối về sông Liêng

không lẽ đời ta khô lại nửa chừng

bao năm bị xiềng trong ngục tối

vẫn thèm khát một dòng sông cuồn cuôn mặt trời

. . . . . . . . . . . . .   . . . .   .  . .

đêm mờ- lạ thay- con mắt sáng

người ở non cao kẻ lưu đày

mới gặp chưa kể tàn cuộc rượu

mà như thân thiết đã lâu ngày

chưa dò tới khoảng sâu đời bạn

mỗi đời riêng suối chảy lẻ dòng

nếu không tụ lại thành sông lớn

thì bao giờ thấy biển mênh mông

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

và uống cạn

đừng bao giò bỏ rơi bè bạn

lúc hiểm nguy

đừng quên phần thịt nai nhỏ bé

của niềm vui chia đều cho mỗi bếp

hột muối cắn đôi thành hai hột muối

gánh nặng sẻ đôi nhẹ bớt hai phần

. . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . .

phóng lao thành gió

túc chiêng thành lửa

ai khởi nghĩa là bạn

ai đánh Tây là bạn

ai hát ca-lêu là bạn

mình ít ché cũ

mình nghèo nồi đồng

nhà mình chỉ có

một trời mưa dông

một chiếc liềm trăng

mài mòn bóng tối

một chú thằn lằn

chiều chiều chặc lưỡi

ông bà để lại

cái bếp này thôi

khi buồn lửa hát

khi vui lửa cười

mình cho anh em

con mắt dò dường

bàn chân rẽ lối

tay đào củ mài

môi thổi kèn lá

bắt chước nai kêu

vượt chín dãy núi

băng mười cánh rừng

anh em cho mình

làm quân khởi nghĩa

làm dòng suối nhỏ

lách qua đá bàn

tràn lên cây mục

nhận tiếng chim rơi

đón trận mưa nguồn

tìm về sông lớn

chảy hoài nên trong

. . . . . . . . . . . . . . . .

anh về trung châu

đang mùa mía lên mật

ngọt tiếng hò khoan bên bờ xe nước

trăng nghiêng dãi dề cát trắng

nghe ta cười đá cũng bớt trâm ngâm

. . . . . . . . . . . . . . . . . .

lá non ơi lá non

nhỏ mềm áp vào mặt ta nóng rực

cứ đứng mãi bên bờ sông tiễn biệt

thuyền khuất rồi cây nhớm gốc nhìn theo

. . . . . . . . . . . . .

bạn có gì hiến cho Tổ Quốc

Tổ Quốc ở trong tôi

hơn những giấc mơ kỳ diệu nhất

nếu phút nào tôi ở ngoài Tổ Quốc

đó là điều bất hạnh của đời tôi

. . . . . . . . . . . . . . .

bàn tay vung gặp gió

đầu ngẩng cao chạm lửa

dấu chân đè lên dấu chân

nhớ người xưa ao ước

bốn biển đều anh em

giờ qanh ta bốn mặt

đồng đội như triều lên

áo rách áo vá

chân đất quần đùi

tầm vông súng kíp

nhào vô xe giặc

hò la nổ trời

nơi này cờ phất

chỗ nọ trống rung

bao nhiêu ngọn đuốc

bùng cháy một lần

bao nhiêu rác rưởi

sóng thần cuống phăng

. . . . . . . . . . . . . . .

mỏi mòn chăng hỡi núi non

mưa tuôn nước xối đá còn thủy chung?

tôi đi suốt những cánh rừng

thầm ơn mỗi chiếc lá từng chở che

đêm nằm dọc suối tôi nghe

những người qua trước chợt về đâu đây

mùi thơm trái chín trên cây

dường như thơm cuối tầm tay chính mình

con đường treo giữa chông chênh

mùi thơm đã hoá ngọn đèn trong đêm

lặng soi từng bước ta lên

thoáng xa thoáng lại kề bên mái đầu

. . . . . . . . . . . . . . . . . . .

tôi yêu

chất người đầu tiên

những giọt sương lặn vào lá cỏ

qua nắng gắt qua bão tố

vẫn giữ lại cái lạnh đầy sức mạnh

vẫn long lanh bình thản trước vầng dương

trong mờ mịt mưa dăng tôi trở lại mùa màng

mà tiếng nói chúng ta là hạt giống

không ai dám đùa với niềm hy vọng

thao thức trên bàn tay người thợ gieo trồng

ta phải đâu kẻ há miệng chờ sung

nhưng con đường đến trái chín

chưa bao giờ đơn giản

và tôi biết

những tượng đài những vinh quang dễ dãi

thật xa lạ với người tù thuở ấy

. . . . . . . . . . . .  .. . . . . . .

ta sẽ có những bài hát khác

xin nhớ lại

giai điệu đầu tiên

lối mòn

những chồi non

hoa

hơi thở

những bàn tay

tia sáng dò đường

tiếng huýt sáo dội vào vách núi

chợt mỉm cười khoảng khắc thấy trời xanh…

Dòng thơ cách mạng và yêu nước

Đẹp má đào (Trịnh thị Tuyết Anh)

Người từ bỏ nhung lụa mượt mà chốn nhà quan, trước cảnh mất nước giả làm nam hoat động trong phong trào Cần Vương đi cứu nước hơn 30 năm,bà văn võ song toàn, là vợ chưa cưới của tênViệt gian,phản bội NguyễnThân

Khoát áo nam nhi vượt sóng trào

Hồn ôm đất nước rực trời sao

Tuốt gươm trừ tiệt phường bạo tặc

Thoả chí bình sinh ,đẹp má đào.

Dệt đường  thơ

Một mảnh trăng thu rọi cõi bờ

Nửa trong hồn nước,nửa đục nhơ

Thân gái dặm trường, gươm bảy thước

Quyết trừ  bạo tặc dệt đường thơ

Thơ Nguyễn Duy Cung(1843-1885)

Ngôn chí                                                         Ý chí

Dịch thơ Đào Văn

Quốc dân nhị tự  khắc tâm trung                                Quốc dân hai chữ khắc ghi

Đột tuyết xung sương chí khí hùng                            Chí cao, khí lực sá gì tuyết sương

Luỹ thượng cao ca thệ đăng địch                               Thành đông hát khúc lên đường

Thuỷ huy lợi nhận trảm cường nhung.                       Gươm này thề giết sạch phường sói lang

Thu tứ                                                 Cảm thu

Dịch thơ Đào Văn

Thu nhạn nam quy xúc ngã sầu                                   Cánh nhạn về nam gợi mối sầu

Vị năng khôi phục cựu thần châu                               Bởi chưa lấy lại được thần châu

Cao sơn lạc diệp thôi nhân lão                                    Non cao lá rụng đầu thêm bạc

Quá khích  quang âm  tựa bạch câu                          Nghe bước thời gian tựa bóng câu

Thơ Lê Trung Đình (1862-1885)

Giã vợ đi thi

Tên cỏ cung dâu vẫn chắc phần

Cực vì biển ái lại nguồn ân

Khúc đàn cầm sắc vui từng nhịp

Chén rượu quan hà nặng mấy cân

Trướng liễu dù vui xuân chín chục

Võ môn ai lướt sóng ba tầng

Dặn lòng vàng đá em đừng ngại

Chán biết hoàng châu mấy sắc xuân.

Ứng tác trước khi bị hành hình

Dịch thơ Hoàng Tạo

Kim nhật lung trung điểu                                              Ngày nay chim trong lồng

Minh triêu trở thượng ngư                                            Ngày mai cá trên thớt

Thử thân hà túc tích                                                      Thân này có tiếc chi

Xã tắc ai kỳ khu!                                                            Gian nan tình đất nước.!

Thơ Nguyễn Tự Tân (1848-1885)-nhà yêu nước Cần Vương

Vịnh Ong Táo –  bài thơ chế riễu tên Việt gian Nguyễn Thân

Cục đất ngày xưa nó thế nào

Ngày nay ông Táo chức quyền cao!

Nỡ đem mặt mũi hom hem thế

Chẳng hổ lưng còng cóm róm sao.

Đòi bữa giữ nhà cho địa chủ

Quanh năm kiếm chuyện mách Thiên Tào.

Rồi đây đất cũng hoàn ra đất

Mẹ kiếp chè xôi giá đáng bao.

Ttnh đất nước

Phóng ngựa vung gươm đến hội này

Chẳng rời yên mộc lướt cầu mây

Trùng ngâm bãi vắng hồn thường gọi

Ve trổi ngàn xanh sóng nước đầy

Chóp núi nhìn xem giây phút đó

Đầu non ngoảnh lại tháng năm chầy

Xiết bao cảnh đẹp tình non nước

Báo tiệp xuân về hương quế bay.

Nỗi ngậm ngùi

Thơ Nguyễn Bá Loan (1878-1908)

Núi liếm chân mây,mây ấp núi

Tình trong như nước,nước trong thơ

Lên cao càng thấy cao cao nữa

Một vùng đất thánh của tự do

Ngóng về đồng nội mây che khuất

Nghe tiếng quân reo dậy cõi bờ

Thanh gươm tuyết hận rơi đầu giặc

Bóng nàng lồng lộng giữa trời mơ *

Hai câu thơ cuối nhắc lại lời thề giữa ông và người mình yêu  làTrịnh Tuyết Anh

và thanh gươm báo thù tuyết hận của nàng.Ng.Bá Loan ch1 sĩ phong trào Cần Vương

Thơ Trần Kỳ Phong(1872-1941)

Chí sỹ yêu nước phong trào Cần Vương,Duy Tân

Chuyện ngược đời

Cày bừa nghĩ cũng gay go

Người ta ăn gạo trâu bò ăn rơm

Người cày mà bị đói cơm

Mấy anh thợ ngói lấy rơm lợp nhà

Buồn cho các chú thợ da

Trong lưng không nịt, đi ra không giày

Buồn cho những chú thợ may

Bao nhiêu quần áo trao tay cho người

Nói ra dở khóc dở cười

Người làm không hưởng đứa xơi không làm.

Thơ Nguyễn NghiêmBí thư tỉnh uỷ đầu tiên Đảng bộ Cộng sản Quảng Ngãi.Ông làm trước khi đi ra pháp trường.

Thân dầu thịt nát xương tan

Giống nòi sống mãi non sông huy hoàng

Lòng ta chan chứa nhiệt tình

Dẫu rằng ngã xuống đâu đành nằm im

Biến thành hồn nước thiêng liêng

Hoà trong sóng cả dâng lên diệt thù

Đôi lời nhắn bạn chinh phu

Tử sanh há để mờ lu chí hùng.

Thơ ông Phạm Ngọc Trânhiệu là Nam Hồng-anh ruột tướng Phạm Kiệt và bà Phạm thị Trinh cả ba anh em là những nhà cách mạng và đều là những nhà thơ.

Xoay đất trời

Trót đã sinh trong cảnh bất bình

Thù nhà hận nước há mần thinh

Quyết xoay trời đất lòng không nản

Thề đáp non sông nghiệp tất thành.

Giành mối lợi quyền, gìn chủng tộc

Chặt xiềng nô lệ, cứu sinh linh

Thân này hiến tận cùng xương tuỷ

Dẫu đến ra tro dạ cũng đành

Nhớ mẹ

Nhớ lại ngày nào con bước ra

Mang theo nghĩa mẹ với tình cha

Quyện trong chiếc áo tàng hơi ấy

Sưởi ấm lòng con nợ nước nhà

Nhớ mẹ con không tả hết lời

Ao cha mẹ xếp để dành hơi

Đến khi hận nước thù nhà gọi

Mẹ khoát thân con gánh cuộc đời

Nhớ lại ngày nào mẹ ấm no

Giờ thân đói rách cảnh buồn xo

Chuyên tay kéo mướn làm thuê mãi

Dạy trẻ nuôi con dạ rối vò.

Nhớ mẹ trông theo một góc trời

Muôn trùng non nước tít mù khơi

Đôi vai gánh nặng thân quằn quại

Tủi phận thần hôn  lệ máu rơi.

Nhớ mẹ sinh con giữa cuộc đời

Nước bèo dâu bể tựa trò chơi

Sinh ly mẹ vẫn vui lòng mẹ

Chờ buổi con xoay ngược đất trời

Đất trời dẫu đoạn số đôi mươi

Mẹ vẫn ung dung nở nụ cười

Như đã có con về với bố

Mang theo chiếc áo trữ tàng hơi

Nhớ lại sau ngày con thiếu cha

Mẹ khuyên con giữ nước non nhà

Dẫu cho đất ngã trời nghiêng hẵn

Cũng trọn mùa xuân đẹp tuổi hoa.

Phan Rang,1928

Giã từ Lao Bảo

Lao Bảo ơi ,Lao Bảo ơi

Sáu năm lao lý đã pha phôi

Non cao nước thẳm nay từ biệt

Đất tổ quê nhà lại dạo chơi

Nếm thử phong trần ai thử  nếm

Vui còn vận hội tớ còn vui

Thênh  thang đường thế tha hồ bước

Reo dậy non sông mấy trận cười

Trung tướng Phạm Kiệt-là một trong những người lãnh đạo xuất

sắc cuộc khởi nghĩa Ba Tơ -nhà cách mạng và cũng là nhà thơ.

Mặt đen sì

Hình dáng như người chẳng khác chi

Cớ sao chẳng đứng lại nằm ì?

Rêu phong cỏ mọc thương thân đó

Kẻ đẩy người xô hổ phận mi

Mặt dạn phong trần cầu thế cuộc

Mặt dày nhật nguyệt đón thịnh suy

Cố đấm ăn xôi mồm méo xệch

Thân khô ,bụng đặc mặt đen sì*

*Tác giả mượn cái tượng đá trước cổng đình làm bài thơ này dụng ý chửi bọn quan trường lúc bấy giờ

Đảng gọi cất cánh bay

Bạn ơi, xin hãy nhớ hôm nay!

Nhớ cảnh đề lao những tháng ngày

Cơm nắm, nước bẩn cơn hoạn nạn

Chân bùn tay lấm nỗi chua cay

Kìa khi đàm luận câu thơ phú

Nọ lúc nghị bàn chuyện dở hay

Tu thân luyện chí thêm bền vững

Hễ nghe Đảng gọi cất cánh bay.*

*Bài thơ được sáng tác lúc tác giả cùng một số đồng chí định vượt ngục,lập chiến khu chiến đấu  lâu dài

Thơ bà Phạm Thị Trinh nhà cách mạng-Cây đại thụ-chứng nhân lịch sử từ 1930.Thơ bà  được in trong Tổng tập Văn học số 35, trong những tập thơ khác và CLB thơ sông Tô.

Nhớ lại ( 1931)

Nhớ lại đồi non lúc đứng ngồi

Nhớ khi gian khổ bạn cùng ta

Nhớ phen lấy nước trong khe đá

Nhớ lúc đun cơm dưới cội chồi

Nhớ cảnh che xum ngày nắng hạ

Nhớ mưa đội lá cảnh đêm thâu

Nhớ thân dày dạn trăng tròn khuyết

Nhớ mãi lòng nhau cảnh núi đồi.

Gặp toàn quyền Patskiê

Ta gặp bay đây rất nực cười

Một thằng chễm chệ ghế phô tơi

Hai thằng khúm núm khom sau trướng

Ngực lại tòng teng những cái gì

Mi hỏi ta rằng chị Đảng viên?

Đến đây để gặp quan toàn quyền

Chị vì lý tưởng bao giờ thắng?

Khi thắng bao người được ở yên?

Mục đích của tôi tôi cứ theo

Tôi vì giai cấp vì dân nghèo

Khi nào đất nước về dân tộc

Cuộc sống trên đời không khác nhau

Con đường Cộng Sản khắp năm châu

Không phân dân tộc nước non nào

Yêu người lý tưởng cùng chung hướng

Kẻ cướp nơi này xin cút mau!

Em đến thăm anh thăm ông Chánh ,lúc giặc đưa ông đi khảo tra

Em đến thăm anh trước cảnh tù

Tay anh xiềng xích,mặt anh tươi

Anh đang bước đến” trường tra tấn”

Anh vẫn chào em một nụ cười.

Em bước theo anh lửa cháy lòng

Anh rằng :”Tôi vẫn trắng và trong”

Tim em hồi hộp trào căm giận

Bởi trận mưa roi xối dập dồn

Anh hét lên!không nuốt hận thù

Căm hờn càng nghĩ lại càng sâu

Chúng ta đâu phải loài cầm thú,

Đâu phải là thân kiếp ngựa trâu

Rồi em quay lưng bước trở về

Phong trần càng nếm,nếm càng tê.

Lửa hờn bốc cháy lòng sôi nóng

Em quyết cùng anh ta bước đi.

Dời non lấp biển

Kìa lũ tham tàn thật bất nhân

Làm con xa mẹ vợ xa chồng!

Nhiều người đói rách nhiều người có,

Lắm kẻ giàu sang lắm kẻ không.

Chồng chất xương phơi trên đất nước

Chứa chan máu đỗ khắp non sông

Ví bằng ông tạo không xoay lại

Ta cũng dời non lấp biển đông.

1932

Mừng được tặng huy hiệu tám mươi tuổi Đảng

Huy hiệu Đảng trao thật quý, mừng

Tám mươi tuổi Đảng nhớ ngày xuân

Bao lần tra tấn ta bền vững

Mấy bận giao tranh địch hãi hùng

Bẽ mặt toàn quyền khi đấu lý

Đau đầu tuần vũ lúc khai cung

Chín lăm tuổi hạc càng vui thú

Góp giữ Giang sơn những chặng đường.

Hà Nội,7/11/2009

Thơ Tướng Nguyễn Chánh

Nỗi nhớ

Nhớ mưa nhớ gió nhớ quê nhà

Nhớ lúc thanh nhàn dạo cỏ hoa

Nhớ trống tự do không kẻ đánh

Nhớ đàn dân chủ thiếu người hoà

Nhớ cờ độc lập bay sông núi

Nhớ đuốc trung thành rọi quốc gia

Nhớ bạn đồng tâm đâu chẳng thấy

Nhớ mưa nhớ gió nhớquê nhà

Suối Ngỗ

Thành bại bởi chí hướng

Cuộc đời còn lắm nỗi chông gai

Tri kỷ ai về nhắn với ai

Vàng thiệt quản gì lò lửa đốt

Ngựa hay chi sá bước đường dài

Rồi đâyThành Gấm cùng thêu dệt

Sắp tới nên kim cố sức mài

Nước chảy đá mòn là thế đấy

Cho hay thành bại bởi chí người.

Lao Quảng Ngãi 1932

Viếng mộ anh

Gặp gỡ nhau chi giữa lúc buồn

Tình xưa nghĩ lại lệ sầu  tuôn

Ngổn ngang gác tía người qua lại

Ngao ngán lầu son khách cúi luồn

Bãi cát dập vùi thân chiến sĩ

Xe đò đưa đón khách gian truân

Trần ai, ai hỡi bền gan óc

Trả kiếp đầu xanh hết nợ nần

Quàng Ngãi 1935 *bài thơ được sáng tác khi đi ngang qua sông Trà Khúc,chạnh nhớ đến      các liệt sĩ,nhất là đồng chí Nguyễn Nghiêm.

Đêm Ca sô bài thơ tướng Chánh gửi vợ-bà Phạm ThịTrinh lúc tù CaSo -Huế

Mưa sa lác đác ngoài hiên,

Ca Sô lạnh lẽo một mình nhớ ai.

Thức đêm mới biết đêm dài,

Kể từ non nước chia hai đến giờ,

Bâng khuâng ruột rối như tơ,

Mấy năm cách biệt bây giờ ra sao?

Giang tay đẩy mạnh phong trào

Tình riêng nghĩa cả giữ sao cho tròn?

Dẫu rằng gan dạ sắt son,

Xót ai thân thể hao mòn vì ta.

Nặng nợ nước ,nhẹ tình nhà,

Chút tình ân ái vẫn là còn ghi,

Ai về nhắn bạn cố tri,

Tình riêng ai lại khác gì hơn ai?

Trên đường gió buốt chông gai,

Đạp bằng ta sẽ cùng ai đi ,về.

Bóng hồng phủ khắp thôn quê,

Em ơi gắng đợi ngày mai,

Tình nhà nghĩa nước đôi bề vẹn hai!

Lao Huế,1944

Thơ Tôn Diêm (1908-1991)

Người chiến sĩ Cộng sản trọn đời hiến dâng cho sự nghiệp C.M vì độc lập của tổ quốc ,tự do và hạnh phúc của nhân dân;bất khuất trước kẻ thù;liêm khiết;thanh bạch.

Sống Trùng hoan

Đôi lời nhắn với bạn đồng bang

Bèo nước đâu nài nỗi hợp tan

Sóng gió chẳng sờn lòng chí sĩ

Ngục tù đâu chuyển chí hùng anh

Vận nước long đong thân khổ nhục

Giống nòi tan tác bước gian truân

Luyện kiếm mài gươm chờ thế cuộc

Giặc thù quét sạch sống trùng hoan.

Lao Quảng Ngái 1931.Theo” tiếng hát trong tù “Nhà xuất bản Thanh niên.

05/04/2011 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Tuyển tập “LỜI THỜI GIAN” – Chương IV

Chương  IV THỜI GIAN

Xưa

Là người biết ngẫm trước sau,

Chung vui hạnh phúc,chia đau nỗi đời.

Ngày xưa lúa tốt bời bời,

Phù sa vận đỏ, đời ngừơi thì đen.

Lúa tiền đóng thuế phu phen,

Cúng Tây, tế Nhật dân đen đói dài.

Kẻ thù bịt mắt bưng tai,

Cấm nói yêu nước,nhồi bài vong nô.

Nhà tù đây đó lô nhô,

Hiền tài người tốt trói gô đẩy vào.

Dân trong cảnh sống lao đao,

Đắng cay gánh chịu, ngọt ngào có đâu!

Trà Giang nước chảy rầu rầu ,

Thạch Bích đôi mắt đỏ ngầu xót xa,

Nhìn con lìa bỏ quê cha,

Dời thân nô lệ đi ra xứ người

Mỗi người một chốn đôi nơi,

Chốn thời thơ ấu và nơi làm người.

Tôi về tiếc tuổi ấu thì,

Sông chở đi mãi chẳng khi nào về!

Dang ra mười ngón tay sè,

Moi tìm đất mẹ,hỏi về tuổi thơ:

Đi phu cha chết bất ngờ,

Vợ khổ ,con đói,ngẩn ngơ mẹ già.

Cao su được bón thây ma,

Sống đời nô lệ lối ra mịt mùng.

Cướp trời,cướp biển điên khùng,

Tây vơ,Nhật vét cả thùng cám heo.

Người nghèo chạm đáy cái nghèo.

Trâu bò thiếu cỏ,chó mèo đói meo.

Dân trong cuộc sống gieo neo,

Ngày bòn củ sắn,tối theo đêm mù.

Nửa đêm nghe mõ gọi phu,

Sáng ra bụng lép,mắt mờ phải đi!

Ao quần rách nát có gì,

Nắng mưa nhất bộ,rét ghì chiếu manh!

Pháp xéo Mỹ ập đến nhanh,

Gieo rắc bệnh dịch chiến tranh điêu tàn

Lập ấp chiến lược gom dân

Vây bắt cộng sản giết dần người khôn,

Kéo theo bọn thú ác ôn

Nam Hàn khát máu dập dồn giết dân.

Bình Hoa*1 giết chóc lan tràn,

Đám Toái*2 bọn quỉ giết tràn thương binh

Khánh Giang-Trường Lệ chúng rình,

Tàu bay phá bậy ,pháo binh bắn bừa.

Mưa hương là nước của trời,

Mưa từ khóe mắt của đời đắng cay,

Nhắc nhau phải tỉnh đừng say,

Chớ quên nô lệ những ngày năm xưa!

Đau sinh nở niềm vui hạnh phúc,

Bệnh tật đôi lần ít đau dai,

Đau làm nô lệ đau dài,

Nỗi niềm u uất đến vài ngàn sau.

Cùng nô lệ có ai tránh được,

Chung nhục hèn đau buốt những đêm thâu.

Sơn Mỹ* 3 đau hãy còn lâu,

Nhát dao lũ qủi nghìn sau có lành?

Thời gian chảy xiết như giòng thác ,

Nước xoáy lồng tung sức vùng lên,

Dìm đời nô lệ lênh đênh,

Dân theo đất nước vươn lên làm người.

Trời trong sông nước xanh tươi,

Đi xa về nhớ con người năm xưa

Nhớ người bạn gái tuổi son,

Cùng tôi đi dạo lối mòn dưới trăng,

Trăng thanh gió mát hương đồng ,

Gió quàng khăn lụa môi hồng lên anh./Ngồi xếp thứ tự quận công nhất hàng/

Bây giờ mấy dặm quan san,

Đông tây nam bắc biết nàng ở đâu?

Em yêu sông núi thì về,

Còn anh đã có một bề chín con,

Khi về mà hãy còn son,

Trăng xưa xin dẫn em theo lối mòn.

Trăng nay có vẻ thêm tròn,

Lối mòn đã mở lại càng rộng hơn.

Em về vẫn có Phú Sơn,

Về mua nón lá trắng non Phường Đình.

Em về còn nghĩa còn tình,

Quê mẹ An Phú, gặp mình sang sông.

Vượt sông em đứng mà trông,

Thấy mình ở giữa bờ sông chân đồi.

Một vùng mắc võng đưa nôi,

Muôn năm Thạch Bích,sông Trà ru nhau.

Ru tình năm ngón trắng phau* 4

Nghìn năm chung thủy trầu cau môi hồng.

Ru non sông trữ xuân nồng,

Năm con sông nhỏ chung bàn tay ru*5

Ước gì sông cũ thu xưa,

Bờ xe lại hát ru vừa lòng nhau!*6

 

*1-Bình Hoà chúng giết 430 người có 269 phụ nữ,164 thiếu nhi,12 phụ nữ bị cưởng hiếp đến chết 6/12/1966

*2-Đám Toái chúng giết 60 thương binh,y sĩ ,y tá 9/9/1965

*3-Sơn Mỹ 16/3/1968 mỹ tàn sát 504 người 182 phụ nư 17 người có thai

*4 sông:h’Rhin,h’Rê,Rờ vá,sông Tang và sông Liêng.Năm con sông nhỏ như năm ngón tay của một bàn tay.*6 Bờ xe nước QN là một sáng tạo,một nhà văn Pháp đã viết:”Aucun spectacle de la province ne renseigne mieux sur l’esprit ingénieux du payan d’Annam…”(không có  quang cảnh nào trong tỉnh cho ta biết nhiều hơn về óc kỹ xảo của người  nông dân Annam…) về lịch sử phát triển nay chỉ còn là kỷ niệm khó quên!

Nay

 

Thời gian nay đã sang trang,

Nắng thơm hương mới nồng nàn nước non.

Đất trời chung một vuông tròn,

Người người chung ý chung lòng ngăn sông.

Thạch Nham dẫn nước về đồng,

Nước trèo lên cả gò đồi quạnh mông.

Ai về ai có biết không?

Ngày xưa Gò Cát đất trồng khô queo,

Bây giờ đất tốt dưa leo,

Một năm ba vụ lúa theo về nhà.

No cơm ơn hạt phù sa,

Ơn người mở lối,khai hoa, tạo đà.

Mình về ngắm lại quê ta!

Ngày xưa đồi trọc giờ ra phố phường.

Rộn ràng sớm nắng chiều sương,

Người đi đắp đập khơi mương cho vườn.

Người về xây lớp xây trường,

Trường mọc như nấm sau ngày gặp mưa.

Trẻ gìa thi học say sưa,

Nhân tài thông thái đủ, thừa hơn xưa.

Ai về Phú Thuận ban trưa,

Lúa nghe cu gáy vươn mình lên cao.

Tôi về trở lại Gò Quao,

Nơi heo hút gió trăng sao điện ngời.

Ước gì bay được lên trời!

Thấy đường tải điện như là nhện giăng.

Điện về xó núi đồng bằng ,

Ti Vi khoe dáng chị Hằng, cung trăng,

Không còn núi cách sông ngăn,

Cầu cao đường rộng rộn ràng xe lăn .

Lý Sơn như ngọn hải đăng,

Dát vàng mặt sóng mời thuyền ra khơi.

Ra khơi đánh cá canh trời,

Giữ vùng lãnh hải thành nơi yên bình.

Xua đi lũ cướp rập rình,

Hoàng Sa giữ  lấy lưới mình mình giăng.

Chiến tranh,

vất  vào mặt bọn xâm lăng!

Nô lệ đã hất,

cất xong lời nguyền.

Thời gian xóa những ưu phiền,

Hòa bình tươi mát diệu huyền sông Ngân.

Em về núi biếc biển trăng ,

Gieo chân đất mẹ lâng lâng tình người

Về nơi biển lộng gió tươi,

Nhìn xem Dung Quất nhận dầu Trường Sa.

Nghìn năm sỏi đá nở hoa

Lửa thiêng bừng sáng chói loà khơi xa.

Nhìn quê ngói đỏ như hoa,

Vườn trầu xanh ngắt,cau nhà vươn cao.

Lắm cô thiếu nữ mắt sao,

Trai tơ chực hái trầu cau thăm nhà.

Người về lòng thấy thiết tha,

Núi cao sông rộng bao la đất trời.

Thời gian đã thốt nên lời:

Sông kia núi đó muôn đời phu thê.

Nước sinh đất thói quê lề:

Đi xa muôn dặm cũng về quê hương,

Nhà xưa bếp cũ yêu thương,

Giòng sông thơ ấu con đường mộng mơ.

Quê nhà phong cảnh nên thơ,

Dang tay rộng đón,đợi chờ con xa

Em về nghe tiếng sơn ca,

Khi đường thơm ngát,lúa mùa vàng ươm !

 

Viễn cảnh

 

Ngày mai rừng núi trong lành,

Môi trường sạch đẹp chân mây thêm hồng.

Ngày mai hương sắc thêm nồng,

Sen hồng Liên Chiểu,quế thơm Trà Bồng.

Đất thơm nhân kiệt càng đông,

Tô cho sông núi,biển trời xanh thêm.

Giữ cho đất Quảng dịu êm,

Lương tri càng sáng soi đêm thành ngày.

Làm cho đất nước hương bay,

Hoà bình tươi mát từ  ngay chân trời

Đại dương lớp lớp sóng dồi,

Đua nhau vỗ bến đất trời quê hương.

Người về đem mãi yêu thương,

Thanh bình yên ả mái trường đẹp hơn.

Mai này tri thức xanh dờn,

Na nô công nghệ -sắc non quê nhà.

Em về từ nước non xa,

Xoe tròn mắt ngắm so ta với người

Quê hương khoe sắc xanh tươi,

Sáng hồng chiều thắm hơn mười ngày xưa,

Mai kia dù nắng hay mưa,

Tròn vo ân ái say sưa nghĩa tình.

Văn nhân mở cửa bình minh,

Cho thêm nắng ấm Thượng Kinh nặn mà.

Ngày mai Dung Quất nở hoa,

Thép xanh đóng mới những tàu đi xa.

Mang theo sản phẩm quê cha,

Dầu thô đã luyện nõn nà tinh tươm.

Mai kia Trà Khúc sâu hơn,

Nước dâng làm hẹp núi chen lấn đồng,

Trà Giang Thạch Bích thêm nồng

Lưng đồi khoe sắc ngói hồng vi la,

Chim trời phương Bắc bay qua,

Cảnh tiên quyến rũ”thiên nga” tách bầy,

Nghiêng đậu Thạch Bích chiều say

Hoàng hôn thêm thắm ngây ngây chuyện tình.

Thạch Nham hồ nước thanh bình

Tàu xuôi lên ngược Cao Muôn ,Trà Bồng.

Tàu thanh lịch gái má hồng,

Lượn xem sinh thái chọn chồng về xuôi.

Người về đồng cảm thắm vui,

Ngắm bờ xe nước xưa nuôi quê nhà,

Xem đường ven biển rộng ra,

Chu lai-Dung Quất- Sa Huỳnh xa xa!

Xem đường lên núi quê ta,

Ổ voi sẽ lấp ổ gà mất đi,

Đường quang trải nhựa phẳng lì

Thời gian lăn bánh vẽ màu tương lai,

Ngày mai nhịp bước sẽ dài,

Non nước đất Quảng chẳng phai sắc màu,

Sử vàng bia đỏ ngàn sau,

Màu càng thêm thắm càng giàu nhân văn,

Trúc vàng sẽ đẻ thêm măng,

Bờ tre xứ  Quảng óng vàng quang vinh.

Cẩm Thành trẻ lại càng xinh,

Lý Sơn ôm chặt đảo tình Hoàng Sa.

 

Khéo thay bà Nguyệt với ông Tơ,

Kết mối duyên xưa đến tận giờ.

Thạch Bích, Trà Giang xuân bất tận,

Lòng sông, vách núi thu ban sơ.

Tuần trăng khao khát mùa hương mật.

Năm tháng say về những bến mơ.

Sao dải Ngân Hà soi Đá Vách,

Trải lòng ngây ngất trước nàng thơ.

Thơ ru ướp đậm hương sen ngát.

Lan tỏa sông đồi những sớm trưa.

Vỗ cánh mây bay về núi cũ,

Rũ lòng mưa thấm đến ngàn sau.

Đôi bờ – môi thắm mê xuân mới,

Một cánh chim trời say lối xưa.

Nhắn nhủ em về ngân tiếng hát,

Thời gian tựa cửa ngắm say sưa!

Bao đời sông nước Trà Giang,

Bấy nhiêu bến hẹn thời gian đi về.

Bao nhiêu thanh cảnh bốn bề.

Chiều nghiêng Thạch Bích hướng về ngắm trông.

Quê hương tiên cảnh non bồng,

Khí thiêng sông núi, hồn người muôn thu.

Miền cổ tích đậm lời ru,

Xuân về trẻ lại theo màu thời gian.

Trí thức,công nhân ,nông dân…

ai là nhà thơ ,ai chiến sĩ,không khác xa

gom thiên nhiên gói vào lòng mình

thành thơ và những chiến công,

thành đồng lúa mênh mông…

trời hồng mây xanh đất Quảng

Nhớ ơn những người đã ngã xuống

anh và em

con và cháu

em ơi ,con ơi và các cháu

nghiêng mình biết ơn  tiền nhân-những người gieo mùa xuân vĩnh hằng!

 

Lòng sông đá nghìn năm hát,

Cổ thụ non cao múa rộn ràng

Ước gì là cánh chim trời,

Chao quanh Đá Vách hát lời thời gian!

Ước gì là cô lái thuyền,

Được yêu cuối biển nên duyên đầu nguồn!

Nếu là nước ra đại dương

Nguyện làm sóng biếc ôm hôn quê nhà!

PHỤ LỤC

Phần cho các nhà thơ đương đại mới xuất hiện chưa lâu.

Thơ Tôn Thanh Quang

Mẹ về với nghìn thu

Mẹ đi tóc hãy còn xanh,

Phượng hè chưa đỏ thu vàng còn xa.

Hồn mẹ neo bến sông Trà,

Ngẫm xem cổ tích trong từng lời ru,

Tiếng ru quyện với cội nguồn,

Mang hồn non nước thổi vào mai sau,

Lời ru ngọt lịm ca dao,

Mẹ ru năm tháng thấm vào lòng con

Yêu con tha thiết mẹ tròn,

Con vuông chưa đủ ,mẹ về nghìn thu!

Gió thu mở cửa lạnh lùng,

Xua đi nồng ấm từng nung bếp nhà!

Mẹ đi gió táp mưa sa,

Chông chênh con bước giữa ba ngã đường.

Ra đi mẹ trút yêu thương,

Trái tim gửi lại cho vườn nhà xưa.

à ơi…vang vọng…

say sưa!

Ngân nga tươi mát ớm trưa vẫn còn.

Mẹ đi sau những mỏi mòn,

Thân tằm rút ruột héo hon thân gầy,

Để nuôi con lớn đủ đầy,

Mong xuân xanh lợp mái đầu con yêu.

Sáng sương đến nhạt nắng chiều,

Chăm vun ý chí ,daỵ điều sáng tâm,

Mong sao con sống xứng tầm,

Bước ra non nước không nhầm hướng đi.

Ơn này đến tân cao xanh,

Sông Ngân tặng ánh sao Khuê mẹ nhìn.

Ước gì là những mùa trăng,

Quàng khăn vàng óng lên nơi mẹ nằm.

Là sao

với nghìn sao sáng xa xăm,

Những đêm tăm tối săm soi nấm mồ,

là sương,

sương biết bi bô,

Thi nhau gọi nắng đua phô sắc màu,

Để mẹ dịu vợi nỗi đau,

Những năm cơ cực gánh sầu oằn vai,

là hoa –

hoa của ban mai,

Hương sen thơm ngát mẹ say giấc nồng.

Mẹ về tắm gội hương đồng,

Soi gương trong vắt dòng sông quê nhà,

Mặt sông phản chiếu gương Nga,

Đưa hình bóng mẹ về sao Ngân Hà.

Mười hai thắng cảnh quê ta,

Xin cho mẹ ngắm tinh hoa đất trời.

Mong cho gió ướp hương đời

Đưa hồn của mẹ về trên Niét Bàn.

Ước gì là cánh chim bằng,

Chở mẹ đi dạo ngày trăng đêm rằm.

Thời gian vần vũ tháng năm,

Quay về thơ ấu con nằm mẹ ru.

Nhớ

 

Ngày dài mỏi mắt ngóng sơn ca,

Đêm ngắm mông lung ánh sáng ngà.

Thao thức vầng trăng ôm biển vắng,

Chập chờn đáy nước ấp Hằng Nga.

Chuông khuya đưa nhớ vào sâu thẳm,

Mõ sớm tiễn buồn ra bến xa.

Bóng Nguyệt lung linh cười quyến rũ,

Dát vàng mặt sóng nhử phong ba.

Bình minh xôn xao

Rẽ quạt chân mây vẽ má hồng,

Xôn xao vũ điệu nhớ vầng đông.

Gió mai dâng sóng hôn bờ cát,

Sương nõn buông mành ấp bén sông.

Tình biển dạt dào phô khát vọng,

Lòng Tiều phơi phới trải xanh trong.

Nghìn năm nhung nhớ người xa vắng ,

Muôn thưở bình minh nơi ngóng trông.

Em và Thơ

Thi phú sóng đôi cập bến bờ,

Hoa thơm nhuỵ ngọt phấn nguyên sơ.

Mênh mang hương sắc nhen thi hứng,

Lãng đãng mây chiều nhóm mộng mơ.

Đem hội chờ xem Trăng tắm Nguyệt.

Ngày vui đón đợi nắng ươm tơ.

Vẫy gần sao lại đêm huyền ảo,

Gió đượm hương nồng em với thơ.

Vườn Tịnh

Vườn Tịnh không vườn có Phật thôi,

Bâng khuâng tu sĩ đứng hay ngồi !

Ni cô bối rối buông lơi tóc,

Gió cả tung lên rối chuyện đời.

Thi khách vô tình vương búi gió,

Dỏng thơ lơ đãng vướng mây trôi

Nửa đời,nửa đạo vườn không tịnh

Đây bến kia bờ sóng rẽ đôi .

 

Ý Chúa

Hương trời sắc nước đời phơi phới

Và khách đa tình say lãng du.

Cất gót sen hồng về bến hẹn,

Đưa hồn thơ mộng đến bờ ru.

Vụng tu lười dếm lần tràng hạt,

Khéo ở sương đeo lấy trượng phu.

Vụng ,khéo,siêng,lười vâng ý chúa,

Am dương hoà quyện mãi thiên thu.

Chiều Trung du

Chiều buông rèm sương che núi xa,

Cồng vang giục giã gọi trâu nhà,

Khói chiều dâng nhẹ màu lam biếc,

Nhà ai đun bếp ấm tim ta!

Lênh đênh

Gió cuốn đêm đi sóng dập dềnh,

Trăng về sau núi biển chông chênh.

Vàng phai soi mói niềm cô quạnh,

Nắng nhạt trêu ngươi bước gập ghềnh.

Chiếc bách dòng đời trôi lỗi  nhịp,

Sông Thu bến nước vỗ lênh đênh.

Trời mây non nước sao lai láng,

Mà mãi lòng thuyền vẫn trông tênh.

 

Hoa của Đất

 

Hồng tươi mơn mởn đoá thiên nhiên,

Đất ngọt hoa thơm ngát cả miền.

Luạ óng ả vàng mây quyến rũ,

Hồ xanh biếc ngọc nước thu huyền.

Đào khoe đôi quả phô xuân sắc,

Thảm xếp cặp chèo khép động tiên.

Ai chán thiên cung thời gió chướng,

Xin về thưởng ngoạn dáng tinh nguyên!

Luật đời

Đã quyết đem thân gá với đời,

Ba chìm bảy nổi cũng đành thôi.

Thâm sơn cùng cốc chàng lao khổ,

Tiên cảnh bồng lai thiếp lả lơi.

Ngày vắn lắng nghe tình rối rắm

Đêm thâu thụ hưởng cảnh đơn côi.

Cất công như gấu tìm ngon ngọt,

Mật đắng gom về uống chẳng vơi!

Thơ Bửu Lê Chi

 

Rất Trà Giang

 

Vẫn đẹp trăm năm bước dịu dàng

Em đi gót nhỏ-rất Trà Giang

Dáng xưa lơ lững bên bờ nước

Anh,bóng tương tư gợn sóng vàng.

Hương em tóc xoả ru ngàn liễu

Thiên An chiều buông thoáng nhẹ nhàng

Gió nhẹ vi vu hồn quyến rũ

Lời nồng thỏ thẻ-rất Trà Giang.

 

Tình ơi em vẫn trăng mười sáu

Thương ánh trăng mơ đến nguyệt tàn

Anh thắp tình em trong mắt mộng

Màu tình huyền dịu –rất Trà Giang.

Sg,2007

Trà- Giang-Kiều- nữ

 

Sông                                             Thương qua sao Khuê

Vẫn ngàn năm                        Toả ánh mềm

Xuôi biển khơi                         Vương vương màu mắt

Em                                               Hạt sương đêm

Thì đọng mãi                           Lá hoa hò hẹn

Giữa hồn tôi                            Màu hương sắc

Là mơ                                      Rất Quảng

Là Quảng                                Rất tình

Là nhung nhớ                          Rất dịu êm

Là mộng xuân xưa

Nét tuyệt vời                             Suối tóc

Buông lơi

Mây vẫn khoan thai                 Thả mịn màng

Trôi lững lờ                                  Trải dòng luyến cảm

Em mang dáng ngọc                Xuống Trà Giang

Gợi màu thơ                                Tôĩ

Vàng trăng                                Người nghệ sịt

Nhã bóng tương tư lại              Thân phiêu bạt

Quấn quít bên tôi                     Sóng gợn tình quê

Buổi đợi chờ                            Vọng ngút ngàn

Thơ Chiêu Phương

 

Túng

I

Túng queo,túng quẩn túng đến khờ

Gặp vận đen điu hoá xác xơ

Rắp bán Ông trời tiêu đỡ đỡ

Răm cầm trái đất nhậu sơ sơ

Trường Sơn bát ngát không văn kiện

Đông Hải menh mông chẳng khế tờ

Ráo mép nhung mà ai cũng chẳng.

Thôi đành quay gót giả làm ngơ.

II

Ngơ ngẩn trông lên sực nhớ ra

Buồn vui lấp loáng ập tràn qua

Bán chòm tinh đẩu đang chơm chớp

Bán dải ngân giang hiện sáng loà

Bán tuốt cây đa và ngọc thố

Bán luôn cung Quảng với Hằng Nga

Bỗng từ trên ấy lời năn nỉ

Chàng hỡi Chiêu Phương chớ bán ta!

III

Ta nghe, những tưởng có ai đùa

Thôi thế thì thôi tất phải thua

Cầm bể ,cầm rừng không kẻ chứng

Bán trời ,bán đất chẳng ai mua

Cò kè tinh đẩu chênh vài giá

Mặc cả cung Hàn được mấy tua

Rồi chyện Hằng Nga này nỉ mãi

Thôi đành gác bỏ thật là chua.

IV

Chua lét chua le thấy chán phèo

Nghĩ mà thêm tủi cái thân nghèo

Vài cây bút cũ ,ngòi đã gãy

Một mớ thơ châm,giấy đã nhèo

Bán quách cái ngông hay láu táu

Bán luôn tuồng tếu cái đòng đeo

Suốt ngày rao mãi không ai hỏi

Sờ lại thì ra cũng túng queo!

V

Queo túi tay trơn sạch cả rồi

Sáng nay lên bảng “Bán Thằng Tôi”

Anh trưng, người lân chen chân đợi

Phòng chật,ai sau hết chỗ ngồi

Giá cả thật là lời chẳng chớ

Bán mua nghĩ cũng chuyện đâu thôi

Lúc cùng tính vậy âu đành vậy

May đặng xuê xoa đỡ một hồi!

VI

Hồi lâu nghe họ cứ so đo

“Rước gã Chiêu Phương nặng mối lo”

Gầy đét thế này sao bán được

Trẻ trung chi đó cũng mua cho

Buông rèm tâm sự Mình nằm đợi

Trở lối hoài nhân Lão ngủ khò

Thôi quách thà thôi hơn chuốc nợ

Hơi đâu mãi tính chuyên vòng vo.

VII

Vòng vo chuyện bán cũng không rồi

Nghĩ trách cho mình số phận ôi

Già cụp lắm phen đà nguýt mắt

Gầy còm nhiều lúc phải trề môi

Giỏi giang sao nỗi còn y đó

Trẻ mỏ nay thời cũng đặng thôi

Bữa biếng cơm hoa ,trà biếng nhắp

Giấc nồng lơ đãng dập dờn trôi.

VIII

Trôi lơ, trôi lững cứ trôi qua

Lại tiếng gà khuya chợt tỉnh ra

Dụi mắt còn in cơn tuý mộng

Tung chăn chưa lắng giấc Nam-Kha

Lòng buồn thâm thấm ,buồn thân phận

Cổ đắng ngăm ngăm,đắng vị trà

Một bóng một đèn ngồi đợi sáng

Túng càng thấy túng quấn bên ta.

IX

Ta hởi cho hay  sự thể nào

Quẩn quanh chi mãi cớ làm sao…?

Tiền không dính túi, nghèo siêng viếng

Gạo cứ leo thang ,túng sấn vào

Xót cảnh đảo điên cơn nhũng loạn

Trách lòng mê mẩn giấc chiêm bao

Thấu chăng hay chẳng ,còn hờ hững

Ngửa cổ trông Trời, thấy quá cao.

X

Cao quá nên trời chả đoái trông

Ta nay tiền của chất mênh mông

Đem “nghèo” khuyến mãi thôi thì tuyệt

Bán “túng” cho vay cũng quá thông

Tiêu lết tiêu la còn khối bạc

Nằm nghiêng,nằm ngửa ngợp hơi đồng

Gia tài sản nghiệp ngàn ngàn tỷ

Mấy chốc đâu mà bỗng phú ông!

Hỏi Trăng

Trăng bao nhiêu tuổi hỡi cô Hằng,

Chồng không màng đến cứ Đông Tây?

Đêm khuya thanh vắng trăng nhòm Nguyệt,

Đem chiết đĩa vàng giấu đáy ao!

Chớm xuân

Gió uống rượu đâu mà say khướt,

Rượt đông già chạy mướt mồ hôi.

Giục cành nhú lộc nghênh tai thỏ,

Nghe én gọi mùa chao nắng xuân.

Nghe sương đếm giọt lên chồi biếc:

Giọt đỏ, giọt hồng, giọt trắng phau.

Thi nhau tròn mắt nhìn đau đáu,

Cả nảng trời xanh gieo ấm nồng.

Vùi trong nắng ấm những say sưa,

Em đếm xuân đong đã đủ chưa?:

Cổng mới khép hờ lơ đãng gió,

Nhà xưa mở hé hửng hờ mưa,

Hằng Nga non tháng còn nô sóng,

Thuyền mộng đầy trăng đã đẩy đưa.

Tao khách chờ xuân,xuân sắp đến,

Nắng còn đang nấp rặng tre thưa.

Xuân đất trời

Trời cao xanh thẳm nghĩ gì đây,

Mà gửi xuân tình lẫn tóc mây.

Mật ngọt,phấn thơm hương quyến rũ

Gió tươi,nắng đượm nỗi riêng tây,

Xuân về ta gửi bông hồng thắm,

Tết đến mình trao chén rươụ cay.

Au yếm nồng nàn anh gửi trọn,

Tình em biển lộng ủ triều say.

Quay trái

Cổng thiền sư khoá sao không chắc,

Để sổng ni cô khỏi cửa chúa?

Thoát cảnh chim lồng tung cánh én,

Quăng mình cá chậu thẳng đường đua.

Trần gian dương thế còn treo nợ

Tiên cảnh bồng lai xa mút mùa.

Đã trót xuôi thuyền về bến tục,

Thiên đàng ,thượng uyển cũng chào thua.

 

 

05/04/2011 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

MẸ VỀ VỚI NGHÌN THU

                 

                                       Tôn Thanh Quang

  

(Đăng trên Blognguoiquangngai.wordpress.com ngày 09/07/2009)

 

Mẹ đi tóc hãy còn xanh.

Phượng hè chưa đỏ, thu vàng còn xa.

Hồn mẹ neo bến sông Trà,     

Ngẫm xem cổ tích trong từng lời ru,

Tiếng ru quyện với cội  nguồn,

Mang hồn non nước thổi vào mai sau.

Lời ru ngọt lịm ca dao,

Mẹ ru năm tháng thấm vào lòng con.

Yêu con tha thiết mẹ tròn,                                                                     

Con vuông chưa đủ mẹ về nghìn thu!          

Gío thu mở cửa lạnh lùng,

Xua đi nồng ấm từng nung bếp nhà!

Mẹ đi gió táp mưa sa,

Chông chênh con bước giữa ba ngã đường.

Ra đi mẹ trút yêu thương,

Trái tim gửi lại cho vườn nhà xưa.

 à ơi…vang vọng …

                        say sưa!                                                                         
Ngân nga tươi mát sớm trưa vẫn còn.

Mẹ đi sau những mỏi mòn,

Thân tằm rút ruột héo hon thân gầy,

Để nuôi con lớn đủ đầy,

Mong xuân xanh lợp mái đầu con yêu.

Sáng sương đến nhạt nắng chiều,

Chăm vun ý chí, dạy điều sáng tâm,

Mong sao con sống xứng tầm,

Bước ra non nước không nhầm hướng đi.

Ơn này đến tận cao xanh,

Sông Ngân tặng ánh sao Khuê mẹ nhìn.

Ước gì là những mùa trăng,

Quàng khăn vàng óng lên nơi mẹ nằm.

là sao

             với ngàn sao sáng xa xăm,

Những đêm tăm tối săm soi nấm mồ.

là sương-

              sương biết bi bô,

Thi nhau gọi nắng, đua phô sắc màu,

Để mẹ dịu vợi  nỗi đau

Những năm cơ cực gánh sầu oằn vai.

 là hoa –

               hoa của ban mai,

Hương sen thơm ngát mẹ say giấc nồng.

Mẹ về tắm gội hương đồng,

Soi gương trong vắt giòng sông quê nhà                                                       

Mặt sông phản chiếu Gương Nga,

Gửi hình bóng mẹ về sao Ngân Hà

Mười hai thắng cảnh quê ta*

Xin cho mẹ ngắm tinh hoa đất trời!

Thiết tha gió ướp hương đời,

Đưa hồn cuả mẹ về nơi Niết Bàn!

Nguyện làm đôi cánh chim bằng,

Chở mẹ đi dạo mùa trăng đêm rằm                                                  

Thời gian vần vũ tháng năm,

Quay về thơ ấu con nằm mẹ ru!.,.

                              12-2008

 

*ở Quảng Ngãi có mười hai thăng cảnh

13/07/2009 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

VIẾNG NHÀ THƠ UYÊN BÌNH

                                                

                                             Tôn Thanh Quang

 

 Tiếc quá anh đi chả dặn dò!

 Nàng thơ ngơ ngẩn đứng buồn xo.

Trăng tà xóa bóng đêm hò hẹn,

Chiều xế nghiêng chao bóng đợi đò.

Chếnh choáng say men thừa nhảm nhí,

Lơ mơ tỉnh giấc thiếu bạn thơ.

Uyên Bình lặng lẽ về Thiên An,

Mở cửa Niết bàn,cất nỗi lo.

 

Uyên Bình anh nở vội đi ngay?!

Thi tứ đang chờ chắp cánh bay.

Nợ đã trả xong cùng cát bụi,

Hồn còn vi vút với heo may.

Hàng năm thu đến bạn bè nhắc,

Mỗi giỗ Em về nâng chén cay.

Núi An đưa anh về cõi phật,

Sông Trà ru mãi giấc nồng say.

 

*Thu-Uyên Bình mất vào mùa thu.

Em-là thơ.

09/07/2009 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Luật đời

 

                           Tôn Thanh Quang

 

 Đã quyết đem thân gá với đời,

 Ba chìm bảy nồi cũng đành thôi.

Thâm sơn cùng cốc chàng lao khổ,

Tiên cảnh bồng lai thiếp lả lơi.

Ngày vắn lắng  nghe tình rối rắm,

Đêm thâu thụ hưởng cảnh đơn côi.

Cất công như gấu tìm ngon ngọt,

Mật đắng gom về uống chẳng vơi.

 

03/07/2009 Posted by | Thơ Tôn Thanh Quang | Để lại bình luận

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.